Tác động của các quy định của hoạt động quảng cáo, khuyến mại, tài trợ tới nhà nước doanh nghiệp người tiêu dùng
Thứ ba, 12 Tháng 3 2019 14:52
Trong dự thảo Luật phòng chống tác hại của rượu, bia (lần V), Cơ quan soạn thảo đề xuất các biện pháp kiểm soát trong khuyến mại, quảng cáo, tài trợ rượu, bia thể hiện tại các Điều 5; 10; 11; 12 và 13. Hiện quy định về kiểm soát quảng cáo, khuyến mại, tài trợ rượu, bia đang còn có ý kiến trái chiều. Lý giải của Cơ quan soạn thảo cho rằng, các biện pháp kiểm soát hạn chế quảng cáo rượu, bia góp phần giảm chi phí của Nhà nước để giải quyết các vấn đề bệnh tật, tử vong, chấn thương và các thiệt hại khác về kinh tế - xã hội. Qua đó, cũng giảm chi phí truyền thông của Nhà nước, giúp Nhà nước có thêm phần ngân sách tiết kiệm được để chi cho phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của rượu, bia; tạo thói quen uống rượu, bia hợp lý. Nếu đợi đến khi tỷ lệ sử dụng ở mức báo động, tình trạng lạm dụng phổ biến mới hạn chế quảng cáo, khuyến mại, tài trợ thì đã quá muộn, hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn, khó khắc phục hơn, không bảo đảm tính dự phòng.
Lý lẽ của Cơ quan soạn thảo đưa ra chưa có căn cứ và sức thuyết phục. Bởi chưa cung cấp được các thông tin và số liệu để minh chứng về mối liên hệ do việc kiểm soát, hạn chế chi phí quảng cáo về rượu bia với việc góp phần giảm chi phí của Nhà nước bỏ ra để giải quyết các vấn đề bệnh tật, tử vong, chấn thương và các thiệt hại khác về kinh tế xã hội. Cơ quan soạn thảo khó có thể chứng minh mối liên hệ nhân quả của việc kiểm soát hạn chế quảng cáo rượu bia, đã góp phần giảm chi phí của Nhà nước để giải quyết các vấn đề bệnh tật, tử vong, chấn thương và các thiệt hại khác về kinh tế xã hội do chi phí quảng cáo rượu bia gây ra.
alt
PGS.TS Ngô Trí Long, Chuyên gia kinh tế
Hoặc lý lẽ của Cơ quan soạn thảo cho rằng qua việc kiểm soát hạn chế quảng cáo cũng giảm chi phí truyền thông của Nhà nước, giúp Nhà nước có thêm phần ngân sách tiết kiệm được để chi cho phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của rượu, bia; tạo thói quen uống rượu, bia hợp lý. Điều này không đúng, để kiểm soát hoạt động hạn chế quảng cáo, khuyến mại, tài trợ rượu bia, Nhà nước lại phải bỏ chi phí nhân lực tài lực. Hơn nữa, nếu các doanh nghiệp không bỏ tiền ra để chi quảng cáo, sẽ để đầu tư sản xuất kinh doanh, không đưa vào ngân sách để nhằm vào những mục tiêu mà Cơ quan soạn thảo đã nêu.
Nếu chỉ vì những người cố tình lạm dụng rượu, bia, lại ban hành ra các quy định ngăn cấm, hạn chế quảng cáo, tài trợ ngành kinh doanh (đồ uống có cồn), một ngành đang đóng góp cho Ngân sách Nhà nước tới trên 50.000 tỷ đồng mỗi năm; bên cạnh đó còn đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế và nhiều hoạt động xã hội hữu ích khác thì đó là điều không công bằng. Không thể lấy con số chi phí khắc phục hậu quả của việc lạm dụng rượu bia và từ hậu quả của việc thiếu kiểm soát rượu nấu thủ công – trên 70% rượu thủ công không được kiểm soát, không đăng ký, không nộp thuế (hàng năm lên đến hơn 2.000 tỷ đồng – theo Tờ trình của Cơ quan soạn thảo), để kiểm soát, hạn chế đến mức cấm đoán các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, tài trợ của ngành rượu, bia chân chính. Chỉ cần bổ sung một số quy định để chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước, đặc biệt là về quản lý rượu thủ công để giảm sự thất thoát lên đến hơn 2.000 tỷ đồng mỗi năm; hoặc giảm thiểu sự nguy hiểm, ngộ độc rượu; điều này sẽ giảm đáng kể chi phí khắc phục hậu quả việc lạm dụng đã gây ra.
Trên thực tế cho thấy rằng, về các quy định cấm, hạn chế quảng cáo và khuyến mại, tài trợ đối với rượu, bia, sẽ không có tác dụng làm giảm thiểu hành vi lạm dụng đồ uống có cồn. Chúng ta hay nghĩ rằng nếu bỏ quảng cáo đi thì người uống rượu, bia sẽ giảm song việc uống rượu, bia với quảng cáo đôi khi không liên quan nhau. Bởi doanh nghiệp có quảng cáo hay không thì người tiêu dùng nếu đã uống sẽ vẫn uống. Một số nghiên cứu về thực tiễn tại các quốc gia khác trên thế giới cũng chỉ ra rằng quy định cấm quảng cáo không hiệu quả trong việc làm giảm tiêu thụ đồ uống có cồn. Nhưng thực tế, không có sự khác biệt trong tổng lượng tiêu thụ đồ uống có cồn giữa các quốc gia có quy định cấm quảng cáo và các quốc gia không có các quy định này. Ví dụ như nghiên cứu tại Hà Lan, Thuỵ Điển, Anh, Đức, Mỹ và Canada cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa cấm quảng cáo với giảm tiêu thụ đồ uống có cồn. Tại một số nước có quy định cấm quảng cáo, lượng đồ uống có cồn tiêu thụ thậm chí còn tăng lên. Ví dụ, tại Ai Cập hay Đan Mạch, lượng tiêu thụ đồ uống có cồn thậm chí còn tăng sau khi có quy định cấm quảng cáo. Trong khi đó, tại một số nước khác đầu tư vào quảng cáo bia, rượu tăng lên nhưng lượng tiêu thụ lại không tăng tương ứng.
Trong thời điểm hiện nay, với sự thay đổi từ các phương tiện và kênh truyền thông truyền thống sang phương tiện và kênh truyền thông kỹ thuật số trên mạng xã hội (đặc biệt là đối với chi tiêu cho quảng cáo), việc kiểm soát chặt hơn đối với quảng cáo đồ uống có cồn/bia trên các kênh truyền thông truyền thống tại Việt Nam sẽ chỉ làm gia tăng tác động kinh tế và thúc đẩy việc chuyển dịch sang phương tiện truyền thông kỹ thuật số trên mạng xã hội với phần lớn doanh thu được chuyển ra nước ngoài thay vì doanh thu này được phát sinh và ghi nhận tại Việt Nam. Cũng theo các chuyên gia, việc cấm quảng cáo sẽ dẫn tới phần lớn doanh thu từ hoạt động quảng cáo được chuyển ra nước ngoài thay vì doanh thu này được phát sinh và ghi nhận tại Việt Nam.
Tác động của việc hạn chế quảng cáo, khuyến mãi, tài trợ rượu bia 
    Đối với Nhà nước:
    Quảng cáo là một ngành kinh tế quan trọng, bởi khi hoạt động quảng cáo phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Nhìn lại những năm qua, hoạt động quảng cáo ở Việt Nam có phần bị ngưng trệ và giảm sút. Theo đánh giá của Quỹ Nghiên cứu Phát triển Quảng cáo (FAR) thuộc Trường Đại học USC, Queensland, Úc, mấy năm gần đây, quảng cáo ở Việt Nam có xu hướng giảm do gặp phải những khó khăn vướng mắc, trong đó có phần do cơ chế quản lý. Năm 2000 quảng cáo chiếm 0,62% GDP; năm 2010 xuống 0,54%, năm 2014 xuống còn 0,53% và năm 2016 chỉ còn 0,48% GDP và năm 2018 chỉ là 0,45%. Dự báo tỷ trọng ngành quảng cáo trong GDP sẽ còn giảm xuống. Trong khi đó ở Indonesia, năm 2000 quảng cáo mới chiếm 0,34% GDP, năm 2010 đã tăng lên 0,65%, năm 2018 đạt 0,96% và năm 2019 dự báo đạt tới 1,09%.
    Chúng ta là một đất nước đang phát triển, đòi hỏi không những tốc độ tăng trưởng GDP cao, đồng thời quy mô GDP cũng phải lớn (hiện khoảng 250 tỷ USD/năm). Quy mô GDP lớn sẽ nâng vị thế của quốc gia, đồng thời tăng thu nhập bình quân đầu người/GDP (hiện 2.584USD/người - vào loại thu nhập trung bình thấp của thế giới). Nếu hạn chế, hoặc kiểm soát quá chặt chẽ, không hợp lý đối với ngành quảng cáo sẽ góp phần làm giảm sự tăng trưởng kinh tế và quy mô của GDP. Định hướng, tầm nhìn Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 28 thế giới vào năm 2030 với GDP đạt 1.313 tỷ USD, và vươn lên vị trí thứ 22 vào năm 2050 với quy mô GDP đạt 3.430 tỷ USD. Thủ tướng Chính phủ đặt vấn đề là Việt Nam hướng tới một xã hội khá thịnh vượng, thuộc nhóm có thu nhập trung bình cao và năm 2045, dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước, là trở thành một quốc gia phát triển thịnh vượng, dân tộc chúng ta không hề thua kém bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới.
    Tại Việt Nam, doanh thu quảng cáo năm 1992 chỉ đạt 8 triệu USD; tuy nhiên, con số ấy đã tăng lên thành 1 tỷ USD vào năm 2016, năm 2018 đạt 1,26 tỷ USD (theo Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam), chiếm 0.45% GDP quốc gia. Cũng theo thông tin từ Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, cả nước có khoảng 6200 doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo và vẫn đang tiếp tục phát triển, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội cho quốc gia. Xu hướng phát triển của ngành quảng cáo đã cho thấy quảng cáo ngày càng có vai trò quan trọng không chỉ với doanh nghiệp sản xuất, mà còn với nhà phân phối, người tiêu dùng và xã hội.
Quảng cáo góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội. Ngành công nghiệp quảng cáo hàng năm đóng góp khá lớn cho ngân sách nhà nước. Không những hỗ trợ cho các phương tiện truyền thông phát triển, nó còn giúp tạo ra việc làm cho hàng trăm ngàn người trong xã hội, có thể kể đến như: các nhà sáng tạo, thiết kế, diễn viên, nhiếp ảnh gia, nhà quay phim, biên kịch, nhân viên nghiên cứu thị trường, v.v. Hơn nữa, việc những biển billboard và panel được treo ngoài trời sẽ giúp các con phố bớt “trống trải” và trở nên đầy màu sắc, đã giúp việc dừng xe chờ đèn đỏ trở nên thú vị hơn với người đi đường. Ngày nay, quảng cáo không chỉ đơn thuần là việc giới thiệu sản phẩm, mà nó đòi hỏi bộ phận sáng tạo (creative) phải thiết kế một thông điệp có giá trị đến khách hàng. Từ đó, những mẩu quảng cáo với những thông điệp ý nghĩa và mang tính nhân văn cao đã góp phần tô thêm màu sắc tươi đẹp cho đời sống, giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
Việc cấm, hạn chế quảng cáo và tài trợ đồ uống có cồn sẽ không có tác dụng làm giảm thiểu hành vi lạm dụng đồ uống có cồn tại Việt Nam mà sẽ dẫn tới những thiệt hại đáng kể cho phát triển du lịch, kinh tế và xã hội của Việt Nam, không nhất quán với Quyết định số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về việc phát triển ngành dụ lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cho đến năm 2020. Các hoạt động văn hóa và thể thao xã hội hóa (do các doanh nghiệp tài trợ) đem đến cho rộng rãi công chúng tại Việt Nam các chương trình giải trí hấp dẫn, đẳng cấp quốc tế. Những hoạt động này cũng góp phần giúp hỗ trợ phát triển ngành dịch vụ du lịch và ẩm thực Việt Nam, đóng góp cho nền kinh tế ở các địa phương phát triển, tạo việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống nói chung. Tại các sự kiện này, Ban tổ chức không bán bia mà còn nhân cơ hội này để tuyên truyền về hành vi uống có trách nhiệm.
Với các quy định được nêu ra trong dự thảo luật nhằm hạn chế quảng cáo, khuyến mại, tài trợ rượu, bia, sẽ có một số tác động làm phát sinh nguồn lực không nhỏ để thực thi giám sát việc tuân thủ các quy định này, làm gia tăng thêm cán bộ thi hành pháp luật về lĩnh vực này (điều này không phù hợp với chủ trương tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên chức) quy định tại Nghị quyết số 39-NQ-TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị, Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ và tinh thần của Công văn số 65/TTg-TCCV ngày 13 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, cũng làm phát sinh thủ tục hành chính và hạn chế quyền chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp, không phù hợp với Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Ngân sách nhà nước sẽ thất thu một khoản thuế lớn từ các doanh nghiệp quảng cáo do hạn chế quảng cáo từ rượu bia.
Các hạn chế quảng cáo, khuyến mại đối với bia và rượu dưới 15 độ cồn mâu thuẫn với các luật hiện hành như Luật Quảng cáo, Luật Thương mại và không phản ánh được sự khác nhau giữa các loại bia, rượu vang và rượu mạnh. Do đó, cần phải xem lại các quy định này một cách khách quan để phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam để bảo đảm tính khả thi và tạo điều kiện cho người tiêu dùng có thể tiếp cận các sản phẩm có chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và tạo điều kiện cho các ngành khác như quảng cáo, du lịch, dịch vụ..
Đề nghị Cơ quan soan thảo chỉ nên tập trung vào các nhóm nguy cơ cao như uống rượu, bia khi chưa đủ tuổi hoặc uống ở mức không an toàn; xem xét việc tổ chức các chương trình giáo dục một cách tích cực nhắm vào các đối tượng cụ thể thay vì nghiêm cấm quảng cáo dưới mọi hình thức hoặc hạn chế quảng cáo vì có thể dẫn đến Ngân sách nhà nước thất thu, người tiêu dùng không có cơ hội tiếp nhận thông tin về chất lượng các sản phẩm tiêu dùng, không thống nhất với các luật hiện hành: Luật Quảng cáo, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Thương mại, Luật về thuế.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị xem xét lại các quy định về hạn chế quảng cáo với bia và rượu dưới 15 độ cồn và hỗ trợ ngành thực hiện hiệu quả quy chế tự tuân thủ phù hợp với các cam kết APEC, thông lệ quốc tế và các chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ.
Các hạn chế quảng cáo đối với bia mâu thuẩn với các luật hiện hành. Theo các quy định hiện hành của pháp luật, việc hạn chế quảng cáo các sản phẩm rượu, bia chỉ được áp dụng đối với rượu trên 15 độ cồn.
Đối với Doanh nghiệp
Việc cấm quảng cáo sẽ ảnh hưởng tới doanh thu của các tổ chức truyền thông của Việt Nam, mất nguồn đầu tư tài trợ cho rất nhiều hoạt động thể thao, văn hóa và du lịch trong nước…do đó sẽ dẫn tới phần lớn doanh thu từ hoạt động quảng cáo được chuyển ra nước ngoài thay vì doanh thu này được phát sinh và ghi nhận tại Việt Nam. Trong khi đây là một nguồn thu rất quan trọng của các doanh nghiệp quảng cáo.
Đến nay, chưa có bất kỳ cơ sở chứng minh nào cho rằng tài trợ Bia hay những hình ảnh/tên gắn trên vật phẩm tài trợ sẽ làm gia tăng mức độ sử dụng có hại.
Hiện nay hoạt động tài trợ của các doanh nghiệp kinh doanh rượu, bia đã mang lại nguồn thu đáng kể cho cơ quan, tổ chức Nhà nước, cũng như góp phần tích cực trong hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao.... Vì vậy cần cân nhắc lại quy định này.
    Việc cấm, hạn chế quảng cáo, khuyến mại và tài trợ sẽ không có tác dụng làm giảm thiểu hành vi sử dụng ở mức có hại tại Việt Nam mà sẽ dẫn tới những thiệt hại đáng kể cho hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp trong lĩnh vực quảng cáo
Liên quan đến hoạt động quảng cáo, tiếp thị bia, rượu, dự án luật phòng, chống tác hại rượu, bia mới đây được xem là sẽ tác động mạnh đến các doanh nghiệp trong ngành. Theo đó, dự thảo đề xuất cấm khuyến mại rượu bia trực tiếp cho người tiêu dùng; cấm dùng rượu bia làm giải thưởng cho các cuộc thi; cấm cung cấp rượu bia miễn phí. Đồng thời, nghiêm cấm quảng cáo, giới thiệu rượu bia từ 15 độ trở lên. Loại dưới 15 độ thì cấm quảng cáo trên phương tiện giao thông, phương tiện quảng cáo ngoài trời, kênh truyền hình, phim... có đối tượng người xem là trẻ em. Cấm quảng cáo bia trên mạng xã hội.
Nếu quá siết việc quảng cáo bia, rượu thì chúng ta đang đánh mất cơ hội nhận tài trợ cho các sự kiện hợp tác, trao đổi văn hóa, lễ hội ẩm thực... Việc cho thông tin nhà tài trợ các lễ hội này cũng là cách giúp công tác tài trợ sự kiện này minh bạch hơn, tránh tối đa gian lận trong việc nhận và trao tài trợ tại các sự kiện. Nếu cấm quảng cáo trong hoạt động tài trợ, điều này làm cho doanh nghiệp tài trợ rất dễ vi phạm, vì hoạt động tài trợ phải được nêu tên, có hình ảnh. Việc cấm này không thể phân biệt được giữa tài trợ và quảng cáo.
Hoạt động tài trợ cho các sự kiện về thể thao, văn hoá hay nghệ thuật là xuất phát từ mong muốn và thành ý của doanh nghiệp được hỗ trợ và đóng góp cho việc phát triển các tài năng và tôn vinh các giá trị văn hóa, thể thao và nghệ thuật. Các sự kiện văn hóa, thể thao lớn được tổ chức hàng năm nếu không có tài trợ sẽ thiếu đi nguồn kinh phí để tổ chức hoạt động do hạn chế từ việc tài trợ của các doanh nghiệp rượu, bia. Dự thảo Luật chỉ nên hạn chế các hoạt động tài trợ có kèm theo bán hàng hoặc quảng cáo cho các sản phẩm rượu, bia. Nếu chỉ cấm ở Việt Nam thì các tập đoàn có phạm vi hoạt động trên toàn cầu cần quảng cáo ở thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc cấm này không có tác dụng.
Vấn đề là chúng ta không cho phép lồng ghép quảng cáo, chứ không thể không cho công khai tên nhà tài trợ, đại diện một doanh nghiệp trong ngành giải khát nêu vấn đề.
Đối với người tiêu dùng
Đối với người tiêu dùng, quảng cáo giúp họ có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về hàng hóa, dịch vụ và tiến hành so sánh giữa các nhãn hàng trước khi ra quyết định mua sản phẩm. Không có quảng cáo, người tiêu dùng sẽ khó khăn và mất thời gian hơn trong việc tìm kiếm và mua sắm. Và nhờ có quảng cáo, quyền lợi của người tiêu dùng sẽ được đảm bảo vì nó buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt với nhau để cung cấp những gì tốt nhất cho khách hàng. Bên cạnh đó, quảng cáo còn giúp người tiêu dùng nâng cao trình độ nhận thức về sản phẩm, dịch vụ đang lưu thông trên thị trường. Việc cấm quảng cáo và giới thiệu các sản phẩm đồ uống có cồn dưới bất kỳ hình thức nào sẽ vi phạm quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng theo quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng. Trên thực tế, người tiêu dùng chỉ có thể có sự lựa chọn đúng đắn khi mua sản phẩm nếu họ có thông tin đầy đủ về chất lượng, nguồn gốc, thành phần và các yếu tố khác của sản phẩm họ quan tâm. Các quy định hạn chế quảng cáo và giới thiệu sản phẩm tại Dự thảo sẽ làm giảm tính minh bạch của thị trường và dẫn đến việc người tiêu dùng mua phải các sản phẩm bất hợp pháp, kém chất lượng, không có nguồn gốc xuất xứ, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo an toàn rõ ràng. Hơn nữa, chúng tôi cũng muốn lưu ý rằng quảng cáo là một kênh thông tin giúp các nhà sản xuất và phân phối hợp pháp truyền tải các thông tin về sản phẩm đến những khách hàng có trách nhiệm. Người tiêu dùng có quyền tiếp nhận thông tin về sản phẩm từ nhà sản xuất chân chính. Nếu cấm hoàn toàn sẽ lợi bất cập hạị – Thay vì cấm, nên điều chỉnh hành vi lạm dụng, quảng cáo sai sự thật ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng. Người tiêu dùng không có cơ hội tiếp nhận thông tin về chất lượng các sản phẩm tiêu dùng do các quy định hạn chế quảng cáo các sản phẩm bia.
Từ những nội dung phân tích trên, mong muốn Cơ quan soạn thảo cân nhắc kỹ lưỡng những tác động của các quy định về hoạt động quảng cáo, tài trợ, khuyến mại về rượu bia trong Luật.  Mong rằng những quy định về các nội dung nêu trên sẽ hạn chế những tác động không mong muốn, đối với công đồng: Nhà nước, Doanh nghiệp và người tiêu dùng.
   PGS.TS Ngô Trí Long, Chuyên gia kinh tế

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 



 
 




Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay6116
mod_vvisit_counterHôm qua11265
mod_vvisit_counterTuần này6116
mod_vvisit_counterTuần trước79956
mod_vvisit_counterTháng này196436
mod_vvisit_counterTháng trước346072
mod_vvisit_counterTất cả26378342