10 danh nhân tuổi Thân xuất chúng trong lịch sử dân tộc
Thứ năm, 21 Tháng 1 2016 10:55

Theo quan niệm của văn hóa truyền thống phương Đông, tuổi tác con người được tính theo 12 con giáp. Nhân dịp năm mới Bính Thân 2016, xin giới thiệu đến quý vị độc giả những danh nhân tuổi Thân mà tên tuổi của họ đã gắn liền với lịch sử dân tộc ta. Họ có thể là những nhà quân sự mưu lược vô song, những nhà văn hóa kiệt xuất, nhà khoa học thiên tài, sinh ra trong những thời đại khác nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chung: Họ là những người con ưu tú của đất Việt ngàn năm văn hiến, đã dốc hết tài năng, tâm huyết để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam thân yêu.
1. Nguyễn Trãi (Canh Thân 1380-1442): Nguyễn Trãi quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và có công lớn trong việc phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc ngoại xâm và lập lên triều Hậu Lê. Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án oan Lệ Chi Viên nổi tiếng trong lịch sử. Tháng 7 năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi. Ông là một nhà chính trị - quân sự, nhà ngoại giao - văn hóa, một nhà văn - nhà thơ mang tầm cỡ kiệt xuất, vĩ đại. Năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới và tổ chức kỷ niệm 600 năm năm sinh của ông.
Hiện nay, ở Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) có khu lưu niệm Nguyễn Trãi - người con vĩ đại của lịch sử nước nhà.
2. Lương Thế Vinh (Canh Thân 1460–1497): Ông quê ở xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Năm Quý Mùi 1463, ông đỗ trạng nguyên khi mới 23 tuổi. Ông làm quan đến chức Thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, có chân trong Tao đàn Nhị thập bát tú thời ấy. Là người hiếu học, thông tuệ, ông có soạn nhiều sách về đạo Phật và quyển Toán pháp đại thành. Các sĩ phu và nhân dân cảm phục tài đức, gọi ông là Trạng Lường (biểu dương ông về khoa toán pháp). Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực.
3. Đào Duy Từ (Nhâm Thân 1572-1639): Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, người thầy, bậc khai quốc công thần số một của chín đời chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn.
Đào Duy Từ làm quan với chúa Nguyễn Phúc Nguyên từ năm 1627 đến năm 1634, trong vòng tám năm (từ năm ông 54 tuổi đến năm 62 tuổi) ông đã kịp làm được những việc lớn như: Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh ở Đàng Ngoài; mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, rộng lớn; xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín chúa mười ba đời vua; sáng lập nên nhã nhạc cung đình Huế - di sản văn hóa vô giá truyền đời trong tâm thức dân tộc.
4. Nguyễn Tri Phương (Canh Thân 1800-1873): Ông quê ở làng Đường Long, xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên nghiệp lớn. Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình nhà Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Trong trận chiến bảo vệ thành Hà Nội tháng 11/1873, Nguyễn Tri Phương nổi tiếng với câu nói bất hủ: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa". Tên của ông hiện nay được trân trọng đặt cho một con đường lớn cạnh thành Hà Nội xưa.
alt
Thành Hà Nội – nơi ghi dấu tên tuổi của đại danh thần Nguyễn Tri Phương.
5. Phan Chu Trinh (Nhâm Thân 1872-1926): Ông là nhà thơ, nhà văn, là một chí sĩ thời cận đại trong lịch sử Việt Nam và là người chủ trì vận động Duy Tân dân chủ. Ông sinh ra ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam.
Năm 1901, triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này ông ở nhà dạy học đến năm 1903 thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Là một người yêu nước nồng nàn, nhìn đất nước lầm than, ông bôn ba khắp đất nước tổ chức các buổi diễn thuyết dân chủ và là người chủ trì vận động phong trào Duy Tân với mong muốn thay đổi suy nghĩ, thay đổi tình trạng đất nước.
6. Phạm Hồng Thái (Bính Thân 1896-1924): Phạm Hồng Thái tên thật là Phạm Thành Tích, quê ở Nghệ An. Ông là một người yêu nước, sớm tham gia các phong trào cách mạng. Tháng 4/1924, ông gia nhập Tâm Tâm Xã. Ngày 19/6/1924, Phạm Hồng Thái đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương Méc-lanh. Vụ đặt bom thành công, bom nổ nhưng Méc-lanh thoát chết, chỉ bị thương. Còn ông đã anh dũng hy sinh. Sự kiện này đã được báo chí Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đưa tin nhiều ngày liền với tên gọi “Tiếng bom Sa Điện”. Mộ của ông được nhân dân Trung Hoa đặt tại Nghĩa trang Trung ương Hoàng Hoa Cương, bên cạnh các Liệt sĩ Trung Hoa, mộ chí ghi “Việt Nam Phạm Hồng Thái Liệt sĩ chi mộ”.
alt

Mộ liệt sỹ Phạm Hồng Thái tại Quảng Châu - Trung Quốc.
7. Hồ Tùng Mậu (Bính Thân 1896-1951): Ông  người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa cử, truyền thống yêu nước. Cuối tháng 4/1920, ông sang Thái Lan, rồi sang Trung Quốc tìm gặp các nhà cách mạng đang hoạt động ở đây và cùng Lê Hồng Sơn lập ra Tâm Tâm xã, tập hợp số thanh niên cùng chí hướng hăng hái kiên quyết, hy sinh quyền lợi cá nhân, cùng nhau giải phóng dân tộc. Sau khởi nghĩa, ông được giao nhiều nhiệm vụ: Phụ trách trường quân chính, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Liên khu IV, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ... Ở bất kỳ địa vị công tác nào, ông đều hăng hái, nhiệt tình và phát động được cán bộ, nhân dân tham gia. Ngày 23/7/1951 trên đường công tác, ông hy sinh do bị máy bay Pháp ném bom.
8. Nguyễn Đức Cảnh (Mậu Thân 1908-1932): Nguyễn Đức Cảnh sinh tại thôn Diêm Điền, xã Thái Hà, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình. Cùng với Ngô Gia Tự, ông là một trong bảy người tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở nước ta. Cuối năm 1930 phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân Nghệ Tĩnh phát triển rầm rộ rộng khắp, nhằm tăng cường đội ngũ lãnh đạo cho phong trào miền Trung, Nguyễn Đức Cảnh được điều vào Trung kỳ chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tháng 4/1931 trên đường đi công tác trở về cơ sở, Nguyễn Đức Cảnh bị giặc bắt và sau đó bị đưa xuống Hải Phòng thi hành án tử hình.
alt
Tượng đài liệt sỹ Nguyễn Đức Cảnh trên quê hương Thái Bình.
9. Ngô Gia Tự (Mậu Thân 1908-1935): Ông sinh ra ở làng Tam Sơn, phủ Từ Sơn (nay là xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Ngô Gia Tự là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam. Ngay từ trẻ, ông đã tham gia hoạt động cách mạng và là một trong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 6/1930, ông bị bắt tại Sài Gòn, bị toà đại hình ở Sài Gòn kết án khổ sai chung thân (5/1933) và đày ra Côn Đảo. Đầu 1935, ông vượt ngục để về đất liền nhưng thuyền bị đắm trên biển. Ngô Gia Tự cùng tất cả các đồng chí vượt biển đã hi sinh.
10. Hải Triều (Mậu Thân 1908-1954): Hải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh ở làng An Cựu ở ngoại thành Huế. Ông là nhà văn lớn, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn chương Việt Nam. Ông học ở trường Quốc học Huế, sau đó bị đuổi khỏi trường do tham gia các phong trào thanh niên yêu nước. Ông hoạt động cách mạng rất hăng hái và bị giặc Pháp bắt năm 1930. Đến năm 1932 ra tù, bắt đầu viết cho báo Đông Phương dưới bút danh mới - Hải Triều. Ông hoạt động sôi nổi trong thời kì Mặt trận Dân chủ (1936-1939), viết bài cho các báo Nhành lúa, Dân, Đời mới, Kiến văn, Tiếng vang, Hồn trẻ... Đặc biệt qua cuộc bút chiến về "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh" (kéo dài từ 1935 - 1939) với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư... đã tạo nên một cơ sở lý luận xuyên suốt cho nền văn học nước ta đến tận ngày nay.
alt
Bìa cuốn sách “Nghệ thuật vị nhân sinh” gắn liền với tên tuổi của nhà văn Hải Triều.

Quang Xuân (tổng hợp)

 


Tìm chúng tôi trên Facebook




 



 





Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4535
mod_vvisit_counterHôm qua19490
mod_vvisit_counterTuần này122065
mod_vvisit_counterTuần trước133481
mod_vvisit_counterTháng này276190
mod_vvisit_counterTháng trước637482
mod_vvisit_counterTất cả33544650
  Hội đồng Biên tập:
Chủ tịch: PGS. TS Nguyễn Văn Việt - Chủ tịch VBA
Các ủy viên:
THS. Nguyễn Tiến Vỵ
Văn Thanh Liêm
GS. TS Đinh Văn Thuận
Nhà sử học Dương Trung Quốc

Phó Tổng biên tập phụ trách:
 
Nhà báo Nguyễn Văn Chương