Để một nghị định về kinh doanh rượu có hiệu lực thực tế
Thứ ba, 07 Tháng 6 2016 11:36
được sản xuất từ quá trình lên men (có hoặc không chưng cất) từ tinh bột của các loại ngũ cốc, dịch đường của cây và hoa quả hoặc được pha chế từ cồn thực phẩm (Ethanol). Ngay từ năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 40/NĐ-CP ngày  7 tháng 4 năm 2008 về sản xuất, kinh doanh rượu; tiếp đến ngày 12 tháng 11 năm 2012 Chính phủ ban hành Nghị định 94/2012/NĐ-CP áp dụng từ 1/1/2013 thay thế Nghị định 40.  Sau khi có các nghị định của Chính phủ, công tác quản lý sản xuất, kinh doanh mặt hàng rượu đã có những chuyển biến nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu vẫn còn nhiều vẫn đề phải có những quy định và chế tài mạnh mẽ hơn của Chính phủ, trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát của các Bộ, ngành, địa phương phải nâng cao hơn...mới mong hạn chế được những bất cập vẫn còn tồn tại và có phần gia tăng như tình trạng sản xuât, buôn bán rượu lậu, rượu giả, rượu không bảo đảm chất lượng, tình trạng lạm dụng rượu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân, gây nên nhiều hậu quả khôn lường trong an  toàn giao thông, trật tự xã hội, sức khỏe cộng đồng, hạnh phúc gia đình...
alt
Ảnh minh họa cảnh nấu rượu thủ công.
Năm nay, theo chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Bộ Công Thương chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành  Nghị định về sản xuất kinh doanh rượu thay thế Nghị định 94 nêu trên. Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam có 1 thành viên tham gia ban soạn thảo.
Sau khi được nghiên cứu Dự thảo lần thứ nhất của Nghị định, tác giả bài viết cho rằng, để Nghị định ban hành lần này đi vào cuộc sống, giải quyết được những tồn tại của thực trạng sản xuất, kinh doanh rượu hiện nay, trước hết ban soạn thảo cần có đánh giá những mặt được và chưa được sau 3 năm thực hiện Nghị định 94, nhất là về mặt thực trạng sản xuất của các doanh nghiệp, làng nghề, hộ gia đình; thực trạng thực thi quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là vấn đề quản lý rượu sản xuất thủ công; thực trạng tiêu dùng rượu trong 3 năm qua...Có thống nhất đánh giá được những nội dung này  cùng với việc xác định mục tiêu quản lý, đối tượng quản lý, giải pháp quản lý mới có thể xây dựng được một nghị định có chất lượng, đưa ra được những quy định, những chế tài đủ mạnh, hợp lý hợp tình để không chỉ nâng cao hiệu lực quản lý mà còn tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng rượu đi vào ổn định, trật tự, hạn chế và ngăn chặn được những bất cập hiện nay. Theo suy nghĩ của tác giả, có một số vấn đề như sau:
Trước hết, phải đặt việc quản lý kinh doanh rượu (với khái niệm kinh doanh trong dự thảo 1 hiện nay gồm các hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, phân phối, bán buôn, bán lẻ) trong bối cảnh đất nước hội nhập toàn cầu, thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do đã và sẽ ký kết; tiếp theo là chuyển việc quản lý đơn thuần bằng giấy phép, bằng quy hoạch sang kết hợp với quản lý bằng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình quy phạm kỹ thuật, chất lượng hàng hóa, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường,...của nhà nước. Có như vậy thì mới xử lý được những vấn đề đã đề ra những không quản lý, giám sát được;  lấn cấn giữa việc tự do kinh doanh với tác động xã hội và sức khỏe con người.
Thực tế thời gian qua, những vấn đề nổi lên liên quan tới sản phẩm rượu hầu hết đều xuất phát từ việc lạm dụng rượu và với những sản phẩm rượu sản xuất thủ công, rượu giả, rượu nhái, rượu không rõ nguồn gốc, rượu tự pha chế, rượu có chất lượng không bảo đảm.  Đây cũng chính là những điểm mấu chốt phải đặt ra để có những quy định pháp luật chặt chẽ, với chế tài đủ mạnh, góp phần làm giảm những hậu họa do tình trạng lạm dụng với những loại rượu nêu trên. Tuy nhiên, dự thảo 1 nghị định chưa đặt ra những quy định đủ mạnh về vấn đề này, mà vẫn là những quy định cơ bản như các nghị định trước đây.
Việc quản lý các loại rượu giả, rượu nhái  không chỉ chủ yếu bằng biện pháp kiểm tra, giám sát các địa điểm kinh doanh đã được cấp phép, mà nên tăng mức độ xử phạt khi có vi phạm và nên có quy định thu hồi giấy phép khi tái phạm. Việc quy định thu hồi giấy phép phải được cụ thể hóa từng trường hợp vi phạm, không nên nêu có tính nguyên tắc, bởi đã là nghị định của Chính phủ thì cần nêu cụ thể hơn cách quy định hiện nay. Tác giả cho rằng đây sẽ là điều có tác động mạnh mẽ nhất để các hoạt động sản xuất, kinh doanh rượu của các đối tượng phải dần đi vào khuôn khổ pháp luật.
alt
Ảnh minh họa.
Việc quản lý sản xuất rượu thủ công là vấn đề quan trọng nhất. Theo những số liệu không chính thức thì sản lượng rượu sản xuất thủ công hàng năm ước khoảng 250-300 triệu lít. Những quy định quản lý hiện hành tưởng như chặt chẽ, song vẫn không quản lý được tình hình sản xuất, sản lượng rượu cụ thể của các địa phương, thậm chí cả những làng nghề có tiếng tăm. Còn chất lượng rượu sản xuất thủ công thì bị thả nổi, nhà nước chưa có quy trình, quy phạm quốc gia về sản phẩm rượu sản xuất thủ công. Việc để các cơ sở, các cá nhân sản xuất rượu tự công bố hợp quy không biết họ công bố trên cơ sở nào? Bởi theo Thông tư số 45/2010/TT-BYT ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Y tế ban hành QCVN 6-3:2010/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm đồ uống có cồn, thì trong đó chỉ đề cập tới cồn thực phẩm và các loại rượu như Rượu vang (wine), Rượu vang nổ (sparkling wines), Rượu vang mạnh (wine spirit), Rượu Brandy/Rượu Weinbrand (Brandy/ Weinbrand), Rượu bã nho (grape marc spirit hoặc grape marc), Rượu trái cây (fruit spirit), Rượu táo và rượu lê (cider spirit and pery spirit), Rượu Vodka (Vodka), Rượu gin Luân Đôn (London gin). Do đó, Bộ Y tế cần sớm có quy định bổ sung việc áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm rượu thủ công . Một khi để người sản xuất tự công bố hợp quy nhằm tạo thuận lợi cho họ thì việc hậu kiểm của các cơ quan quản lý là rất quan trọng, để xem mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn về nồng độ rượu, các tạp chất còn lại...như thế nào; có bao nhiêu cơ sở sản xuất đáp ứng được còn bao nhiêu cơ sở thì không? Chưa nói về  các quy định bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất rượu từ nhà xưởng, trang thiết bị...thì có thể nói hầu hết các cơ sở sản xuất rượu thủ công đều không đáp ứng được. Vậy nên, cách quy định như  lâu nay dường như  là quy định cho có, còn việc thực thi đến đâu thì khó nói lên được. Bởi vậy, tình trạng ngộ độc rượu, sản xuất, buôn bán rượu giả, rượu nhái, rượu không đảm bảo chất lượng vẫn tồn tại và có phần gia tăng, làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng.
Liên quan tới quản lý rượu thủ công còn có trách nhiệm của các nhà sản xuất rượu công nghiệp. Dự thảo nghị định vẫn quy định việc tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công để bán cho các doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại phải đăng ký với UBND xã và sao bản hợp đồng với cơ sở chế biến lại thì mới là điều kiện cần nhưng không đủ vì trách nhiệm mua hết, mua kịp thời của các doanh nghiệp chế biến lại (là những doanh nghiệp sản xuất rượu công nghiệp) không được ràng buộc, không là trách nhiệm của họ. Vì vậy, cần có quy định những nhà máy rượu công nghiệp cụ thể gắn với vùng làng nghề, vùng sản xuất rượu thủ công, có như vậy vấn đề rượu thủ công mới quản lý được.
Một khía cạnh nữa trong quản lý rượu là quản lý lưu thông rượu. Chúng ta đều biết, từ năm 2002 Chính phủ đã có Nghị định 66/2002/NĐ-CP ngày 1/7/2002 quy định hàng hóa được miễn thuế của người xuất, nhập cảnh Việt Nam, trong đó rượu từ 22 độ trở lên được mang 1,5 lít, rượu từ 22 độ trở xuống được mang 2 lít, bia được mang 3 lít và chỉ áp dụng cho người đủ 18 tuổi trở lên. Nhưng trong thị trường nội địa, việc cá nhân vận chuyển nhiều lít rượu đi buôn bán, hoặc cho bạn bè, hoặc để tự dùng đến nay vẫn thả nổi. Đây là một kẽ hở trong quan lý, bởi nhiều người cho rằng rượu tự nấu là yên tâm, an toàn nhẩt nên đã tự nấu lấy rượu để buôn bán, cho bạn bè, mang đi làm để uống mà không biết rằng các loại rượu đó hoàn toàn không đạt tiêu chuẩn chất lượng rượu an toàn. Chưa nói tới tình trạng tự nấu rượu đã ảnh hưởng không nhỏ tới cân đối lương thực cho từng gia đình, xã hội. Thời pháp thuộc Chính  phủ đã có sắc lệnh cấm nấu rượu và có chế tài phạt tiền, xử giam rất nặng. Nên chăng trong Nghị định lần này cũng có những điều khoản quy định về vấn đề này./.

Xuân Mai

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 


Tìm chúng tôi trên Facebook




 



 





Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1565
mod_vvisit_counterHôm qua17525
mod_vvisit_counterTuần này36108
mod_vvisit_counterTuần trước105942
mod_vvisit_counterTháng này272244
mod_vvisit_counterTháng trước395206
mod_vvisit_counterTất cả28505470
  Hội đồng Biên tập:
Chủ tịch: PGS. TS Nguyễn Văn Việt - Chủ tịch VBA
Các ủy viên:
THS. Nguyễn Tiến Vỵ
Văn Thanh Liêm
GS. TS Đinh Văn Thuận
Nhà sử học Dương Trung Quốc

Phó Tổng biên tập phụ trách:
 
Nhà báo Nguyễn Văn Chương