Cần có thời gian nghiên cứu và xem xét lại dự thảo Luật
Thứ ba, 26 Tháng 6 2018 10:27
Cần có thời gian nghiên cứu và xem xét lại dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác
sau khi nghiên cứu hồ sơ Dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo (lần thứ 3, ngày 15/6/2018) gửi Bộ Tư pháp thẩm định, với tư cách là đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh rượu, bia và đồ uống có cồn khác, Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam có ý kiến như sau (VBA):
Nhiều số liệu chưa chính xác, thiếu đồng nhất
Bộ Y tế nêu ra 5 căn cứ để chứng minh sự cần thiết phải xây dựng dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (nay đổi thành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác).
Tuy nhiên, những căn cứ và số liệu mà Bộ Y tế nêu ra để khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một đạo luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia có một số nội dung chưa chính xác.
Thứ nhất, về thực trạng sử dụng rượu, bia: Bộ Y tế cho rằng: “Thực trạng sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác ở Việt Nam đang ở mức báo động cần phải được kiểm soát chặt chẽ để giảm mức tiêu thụ”. Bộ Y tế nêu các số liệu sau:
- Về mức độ tiêu thụ rượu, bia, nếu quy đổi ra số lít cồn nguyên chất thì bình quân/người (>15 tuổi)/năm ở nước ta đã tăng từ 3,8 lít trong giai đoạn 2003 - 2005 lên tới 6,6 lít giai đoạn 2008 -2010, và lên tới 8,3 lít vào năm 2016 tức là đã tăng tới 118% và tăng 30 bậc theo xếp loại của Tổ chức Y tế thế giới từ vị trí 94 lên vị trí 64/194 quốc gia.
- Nếu tính riêng với nam giới trên 15 tuổi có sử dụng rượu, bia thì bình quân một người ở Việt Nam tiêu thụ trung bình khoảng 27,4 lít cồn nguyên chất (năm 2010). Mức tiêu thụ này là rất cao, xếp thứ hai trong các nước Đông Nam Á/Tây Thái Bình Dương, xếp thứ 10 Châu Á và thứ 29 thế giới.
Hiệp hội thấy rằng những số liệu trên là không chính xác và đề nghị cần có sự chứng minh về tính xác thực của những số liệu này, bởi với 4 tỷ lít bia và khoảng 300 triệu lít rượu (theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Công Thương) thì không thể ra số liệu 8,3 lít cồn nguyên chất và 27,4 lít cồn nguyên chất như Bộ Y tế nêu ở trên.
Thứ hai, về tác hại của rượu, bia: Bộ Y tế nêu: “Sử dụng rượu, bia gây ra những hệ lụy to lớn với sức khỏe, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của gia đình cùng các hậu quả kinh tế - xã hội trầm trọng cần phải được kịp thời ngăn chặn”???
Bộ Y tế dẫn chứng: Tại Việt Nam, số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy, rượu, bia và đồ uống có cồn khác là yếu tố gây ra 2,9% số trường hợp tử vong và 2,2% gánh nặng bệnh tật quốc gia trong năm 2008. Năm 2012, 8,3% số trường hợp tử vong cả nước có liên quan đến việc sử dụng rượu bia và đồ uống có cồn khác?
alt
Theo Tờ trình, rượu, bia và đồ uống có cồn khác là nguyên nhân trực tiếp của ít nhất 30 bệnh tật quốc tế ICD 10. Tuy nhiên, theo báo cáo của Trung tâm về Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), chỉ có 15 loại bệnh có nguyên nhân trực tiếp từ đồ uống có cồn, trong đó chủ yếu là các bệnh do lạm dụng đồ uống có cồn ở mức nguy hại hoặc do tiêu thụ sản phẩm kém chất lượng như bệnh nghiện rượu (alcohol abuse), triệu chứng phụ thuộc rượu (alcohol dependence syndrome, ngộ độc rượu, hội chứng rượu bào thai.
Cũng theo Tờ trình của Bộ Y tế, tiêu thụ rượu, bia bất kể là nhiều hay ít đều có hại cho sức khỏe. Tuy nhiên, có nhiều báo cáo khoa học, thí nghiệm lâm sàng và nghiên cứu y học đã chỉ ra rằng uống rượu, bia ở một mức độ hợp lý có thể giúp làm giảm các nguy cơ đối với các bệnh về tim mạch như đột quỵ do thiếu máu cục bộ, tiểu đường tuýp 2 và bệnh mất trí nhớ.
Theo Tờ trình của Bộ Y tế, rượu, bia và đồ uống có cồn khác là “một trong những nguyên nhân cấu thành chính” của 6 bệnh ung thư, bao gồm ung thư vú, trực tràng, gan, khoang miệng, dạ dày, cổ tử cung. Tờ trình chưa chỉ ra cơ sở khoa học của nhận định này, trong khi theo một báo cáo khoa học năm 2018 của Quỹ Nghiên cứu về Ung thư Thế giới, chỉ có ung thư vú là có mối quan hệ đối với việc uống rượu, bia tuy nhiên ở mức độ rủi ro thấp.
Trên đây chỉ là một vài dẫn chứng về các báo cáo khoa học với những kết quả và bằng chứng khác với những thông tin và viện dẫn trong Tờ trình của Bộ Y tế. Trên thực tế, có khá nhiều các nghiên cứu khoa học khác đã chứng minh rằng bản thân đồ uống có cồn, nếu đảm bảo chất lượng và tiêu thụ một cách đúng mức, thì không những không có hại cho sức khỏe mà thậm chí còn tốt cho sức khỏe.
Hiệp hội đề nghị các cơ quan chức năng cần xem xét một cách chính xác và khách quan về nguyên nhân dẫn đến những tác hại đối với sức khỏe và xã hội. Việc xác định được chính xác nguyên nhân này sẽ giúp cho các nhà làm luật và hoạch định chính sách xác định được đúng phương hướng tiếp cận và những giải pháp khắc phục và quản lý được qui định trong văn bản này.
Bộ Y tế nêu: Nếu phí tổn kinh tế do rượu, bia và đồ uống có cồn khác tại Việt Nam ở mức thấp nhất thế giới (1,3% GDP) thì thiệt hại đã là khoảng gần 65 nghìn tỷ đồng gấp trên 1.4 lần mức đóng góp cho ngân sách nhà nước của ngành sản xuất rượu bia, nước giải khát ở Việt Nam năm 2017 (khoảng 50.000 tỷ đồng, đã bao gồm cả đồ uống là nước giải khát, nếu tính riêng rượu, bia sẽ thấp hơn).
Hiệp hội đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ cơ sở nào để xác định thiệt hại do sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác gấp 1,4 lần mức đóng góp cho Ngân sách Nhà nước của ngành.
Bộ Y tế nêu: Theo số liệu thống kê mới nhất, trung bình mỗi năm Việt Nam có 15.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó 4.800 trường hợp có liên quan đến rượu, bia và đồ uống có cồn khác?
Trong khi Báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia: năm 2017, toàn quốc xảy ra 20.080 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.279 người, bị thương 17.040 người. Vậy số liệu nào là chính xác?
Đề nghị Bộ Y tế nêu rõ căn cứ nào để khẳng định: Mặc dù mức sử dụng rượu bia bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn một số nước nhưng tỷ lệ người lớn và trẻ em ở Việt Nam chịu tác hại từ việc sử dụng rượu bia của người khác trong 12 tháng qua lại thuộc nhóm 2 nước cao nhất.
alt
Thứ ba, Bộ Y tế nêu: Thực trạng sản xuất, kinh doanh và quản lý sản xuất, kinh doanh rượu, bia và đồ uống có cồn khác hiện nay chưa đáp ứng, chưa phù hợp với yêu cầu phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác?
Trước hết phải khẳng định rằng hiện nay Nhà nước đã quản lý tốt đối với rượu sản xuất công nghiệp và bia. Ngành sản xuất và kinh doanh rượu, bia đã đóng góp cho ngân sách khoảng 50 ngàn tỷ đồng/ năm và tạo việc làm cho hàng triệu lao động cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Tuy nhiên, theo Bộ Y tế nêu trong Tờ trình: “ước tính, hiện vẫn còn khoảng hơn 230-280 triệu lít rượu thủ công chưa quản lý được về sản lượng, chất lượng và tiêu dùng (chưa cấp phép, chưa có đăng ký với chính quyền). Nhiều cơ sở sản xuất rượu, bia và đồ uống có cồn khác quy mô nhỏ, thủ công chưa thực hiện đầy đủ các quy định về chất lượng an toàn thực phẩm. Việc kiểm soát hàm lượng methanol, aldehyt trong rượu thủ công còn chưa tốt nên tử vong do ngộ độc rượu còn cao”.
Vậy cần có cơ chế quản lý sản phẩm rượu thủ công này như thế nào để hạn chế tác hại do nó gây ra thì lại chưa được đề cập trong Tờ trình và Dự thảo.
Thứ tư, về thực trạng pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác:
Bộ Y tế cho rằng: Thực trạng pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác hiện nay chủ yếu quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh rượu, bia, chưa điều chỉnh đầy đủ đối với phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác và đã bộc lộ những hạn chế, bất cập đòi hỏi phải điều chỉnh kịp thời?
Bộ Y tế còn trích dẫn không chính xác tên của Quyết định 244/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ là: về chính sách quốc gia về phòng, chống tác hại của đồ uống có cồn (không rõ vô tình hay hữu ý Bộ Y tế đã bỏ mất chữ “lạm dụng” khi trích dẫn tên Quyết định của Thủ tướng Chính phủ).
Tại sao có nhiều văn bản quy phạm pháp luật như vậy mà chưa quản lý tốt việc sản xuất, kinh doanh rượu, bia, nhất là rượu thủ công như ý kiến của cơ quan đề xuất. Nếu có thể khắc phục được các hạn chế đó thì có cần thiết phải ban hành một đạo luật mới hay không.
Thứ năm, Bộ Y tế cho rằng: Kinh nghiệm thế giới và khu vực cho thấy phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác là một yêu cầu cần thiết và được các nước quan tâm ban hành chính sách, pháp luật?
Tháng 5 năm 2010, Đại hội đồng Y tế thế giới lần thứ 63 đã nhất trí thông qua Nghị quyết về Chiến lược toàn cầu nhằm giảm thiểu tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn. Các quốc gia đã quan tâm xây dựng chính sách, pháp luật để hưởng ứng Chiến lược này. Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2014 về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020.
Bộ Y tế có dẫn chứng các quốc gia đã ban hành chính sách pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác.
Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao hiện nay chưa có quốc gia nào trên thế giới ban hành Luật có tên là Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác mà chỉ có tên là: Luật Kiểm soát đồ uống có cồn (Thái lan năm 2008), Luật Kiểm soát rượu, bia và thuốc lá (Srilanka), Luật Kiểm soát đồ uống có cồn (Sing - ga – po, Lithuania)... Nguyên nhân vì sao hay họ lồng ghép trong các văn bản khác về chính sách?
Về đánh giá tác động của Luật
Việc đánh giá tác động của luật là một yêu cầu bắt buộc, quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, trong Tờ trình của Bộ Y tế chưa nêu rõ các ảnh hưởng tiêu cực khi ban hành luật này.
alt
Việc đề xuất các chính sách nhằm hạn chế nguồn cung và hạn chế nhu cầu sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác sẽ dẫn đến một số tác động đối với người lao động và gia tăng tình trạng buôn lậu, hàng nhái, hàng giả vì:
- Khi giảm nguồn cung và hạn chế nhu cầu sử dụng sẽ dẫn đến dôi dư một số lao động đang làm việc trong ngành sản xuất, kinh doanh rượu, bia, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách phù hợp và phải chi một nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để giải quyết chế độ đối với số lao động này.
- Nhu cầu sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác phù hợp với văn hóa ẩm thực của người Việt Nam và là một thực tế khi dân số tăng và kinh tế ngày càng phát triển. Nếu hạn chế nguồn cung sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng vấn nạn nhập lậu, hàng nhái, hàng giả và Nhà nước sẽ phải chi ra một nguồn kinh phí không nhỏ để phòng chống vấn nạn này.
- Nguy hiểm hơn, nếu sản xuất trong nước không đáp ứng nhu cầu và vấn nạn nhập lậu, hàng nhái, hàng giả gia tăng sẽ dẫn đến sản xuất trong nước bị đình trệ, ảnh hưởng lớn tới nguồn thu ngân sách của Nhà nước.
Bộ Y tế cũng chưa có đánh giá về ảnh hưởng của Luật này đối với các hoạt động quảng cáo, du lịch...
Hơn nữa, tình trạng rượu trôi nổi, rượu không rõ nguồn gốc, xuất xứ, rượu dân tự nấu là nguyên nhân chính liên quan đến các vụ ngộ độc, không thu được các loại thuế, phí và hiện vẫn chưa quản lý được mặc dù đã được quy định trong một số văn bản thì cơ quan đề xuất vẫn chưa đưa ra được các biện pháp quyết liệt, khả thi khi xây dựng dự án luật này.
Với những phân tích trên, các bên liên quan chịu tác động trực tiếp đến dự thảo này kiến nghị cần phải có thời gian nghiên cứu, xem xét lại những số liệu và những quy định chưa hợp lý trong dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác.
PV (theo nguồn VBA)



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

 

 






Liên kết website