Vì sao nhiều ý kiến góp ý về dự thảo Luật mà Ban soạn thảo chưa chỉnh sửa?
Thứ tư, 27 Tháng 6 2018 14:31
 Liên quan đến dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác (dự thảo lần 3)
mà Bộ Y tế soạn thảo, có những quy định vẫn chưa tiếp thu ý kiến góp ý của các bộ ngành, hiệp hội và doanh nghiệp. Vậy vì sao, những bất cập đó chưa được Ban soạn thảo điều chỉnh?
Dưới đây là những kiến nghị mà Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam gửi tới Hội đồng thẩm định dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác.
Tên gọi cần phù hợp chính sách quốc gia và thông lệ quốc tế
 Về tên gọi của dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác chưa hợp lý, bởi khái niệm “rượu, bia và đồ uống có cồn khác” có thể viết gọn lại là “đồ uống có cồn” vừa gọn lại vừa chính xác, phù hợp với Chiến lược toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng như Chính sách quốc gia về phòng chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn ban hành kèm theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ. Trên thế giới chưa có quốc gia nào có Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia mà chỉ có Luật Kiểm soát đồ uống có cồn.
Đề nghị có sự phân biệt rõ ràng giữa rượu và bia, giữa rượu mạnh và rượu vang, cần có các quy định rõ ràng, cụ thể đối với từng loại sản phẩm này, không quy định chung chung đối với rượu, bia và đồ uống có cồn khác.
alt
Về quản lý rượu thủ công
Trong dự thảo Luật chưa thể hiện được nội dung cần quan tâm nhất là quản lý việc sản xuất, kinh doanh rượu thủ công, trong khi đây là nội dung cần phải quy định cụ thể nhất vì sản phẩm này là nguyên nhân gây ra các vụ ngộ độc, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và thất thu cho ngân sách nhà nước hàng ngàn tỷ đồng/năm.
Trong dự thảo Tờ trình gửi xin ý kiến trên mạng, Bộ Y tế cho rằng nếu quản lý tốt rượu thủ công thì Nhà nước có thể thu thêm 2.000 tỷ đồng/năm?
Nếu thu thêm được khoản này thì sẽ gấp chục lần khoản bắt buộc các doanh nghiệp phải đóng góp cho Quỹ Nâng cao sức khỏe (khoảng 215 tỷ đồng/năm theo tính toán của Bộ Y tế).
Bộ Y tế cần xác định rõ khoản thất thoát này. Hơn nữa, theo nghiên cứu của Euromonitor tổng thiệt hại tài chính từ thị trường bia, rượu trái phép (bao gồm cả rượu thủ công) với tổng giá trị thiệt hại khoảng 441 triệu USD/năm.
Cần phải xác định rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp nhất là chính quyền cấp cơ sở trong việc quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh rượu thủ công.
Về quy định thời gian, khoảng cách giữa các địa điểm bán rượu, bia.
Việc quy định khoảng cách bán hính không nhỏ hơn 200m đến các địa điểm không được bán rượu, bia ở các tỉnh/thành phố là không khả thi vì hiện nay khoảng cách giữa các địa điểm kinh doanh và các cơ sở y tế, trường học rất sát nhau. Quy định này thậm chí còn nghiêm ngặt hơn so với Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá quy định các điểm bán thuốc lá “Chỉ giới hạn 100 mét (m) tính từ ranh giới khuôn viên gần nhất của ngoài cổng nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, viện nghiên cứu y học, bệnh viện, nhà hộ sinh, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế xã, phường, thị trấn”.
Quy định này cũng không phù hợp với xu hướng phát triển của đô thị với việc thay thế các cửa hàng bán lẻ bằng các trung tâm thương mại, siêu thị, và có thể tạo nên một cơ chế độc quyền khi mỗi trung tâm thương mại hay siêu thị chỉ được có một cửa hàng bán lẻ rượu, bia.
    a) Quy định về cấm hoặc hạn chế giờ bán rượu và quy định về khoảng cách tối thiểu giữa các cửa hàng bán lẻ rượu, bia nên được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt là tính khả thi và những tác động đối với ngành du lịch, khách sạn và giải trí, mà ngành công nghiệp đồ uống có đóng góp đáng kể. Cụ thể là:
Điều 9 Quy định về đảm bảo khoảng cách bán kính giữa các địa điểm kinh doanh rượu, bia và giữa địa điểm kinh doanh rượu bia với các địa điểm không được bán rượu bia không nhỏ hơn 200m (trừ các tuyến phố chuyên kinh doanh ẩm thực du lịch).
-    Khoảng cách bán kính 200m giữa các địa điểm kinh doanh rượu, bia được xây dựng trên cơ sở khoa học nào và quy định này sẽ phục vụ mục tiêu kiểm soát lạm dụng hay tiêu thụ bia, rượu như thế nào? Trên thực tế, người tiêu dùng sẵn sàng di chuyển thêm 200 mét để mua rượu hay bia.
-    Tại các thành phố lớn đang có xu hướng các cửa hàng bán lẻ tập trung vào siêu thị hoặc các trung tâm thương mại. Qui định này sẽ áp dụng như thế nào trong trường hợp các siêu thị hoặc trung tâm thương mại?
b)     Quy định về cấm bán rượu, bia vào những giờ nhất định trong ngày như các phương án được nêu trong Dự Luật, nếu được ban hành sẽ:
- Có thể khuyến khích việc uống một cách vô trách nhiệm hoặc mua nhiều hơn trước khoảng thời gian bị cấm và vì vậy quy định cấm trở nên phản tác dụng.
- Quy định cấm bán theo giờ nếu được áp dụng tại Việt Nam sẽ ảnh hưởng lớn đến ngành khách sạn và du lịch, đặc biệt là ở những thành phố, địa phương nơi du lịch là một trong những ngành mũi nhọn của phát triển kinh tế. Quy định này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đối với những ngành kinh doanh dịch vụ du lịch, ẩm thực và giải trí. Việc giám sát thực thi quy định này cũng đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực dồi dào trong các cơ quan thi hành pháp luật.
Về các biện pháp kiểm soát khuyến mại, quảng cáo, tài trợ rượu, bia và đồ uống có cồn khác
Đề nghị xem lại các quy định này để phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam để bảo đảm tính khả thi và tạo điều kiện cho người tiêu dùng có thể tiếp cận các sản phẩm có chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và tạo điều kiện cho các ngành khác như quảng cáo, du lịch, dịch vụ...
Hoạt động tài trợ cho các sự kiện về thể thao, văn hoá hay nghệ thuật là xuất phát từ mong muốn và thành ý của doanh nghiệp được hỗ trợ và đóng góp cho việc phát triển các tài năng và tôn vinh các giá trị văn hóa, thể thao và nghệ thuật. Dự Luật chỉ nên hạn chế các hoạt động tài trợ có kèm theo bán hàng hoặc quảng cáo cho các sản phẩm rượu, bia. Trong những trường hợp, doanh nghiệp tài trợ mà không kèm bán hàng, quảng cáo hay giới thiệu sản phẩm thì không nên cấm.
Các kinh nghiệm và báo cáo quốc tế cho thấy tăng cường hay giảm quảng cáo không đồng nghĩa với việc tăng hay giảm tiêu thụ đồ uống có cồn. Quảng cáo chỉ giúp người tiêu dùng lựa chọn thương hiệu sản phẩm mà họ yêu thích. Nếu không có quảng cáo, người tiêu dùng sẽ dễ bị lựa chọn những sản phẩm không đảm bảo chất lượng.
Việc cấm quảng cáo trên mạng xã hội là rất khó mang tính khả thi và khó kiểm soát vì mạng xã hội là một nền tảng trên Internet để mọi người chia sẻ thông tin, bao gồm cả thông tin về đồ uống có cồn. Việc cung cấp, chia sẻ thông tin trên mạng xã hội có thể không phải là quảng cáo. Quy định về quảng cáo trên mạng xã hội chỉ nên dừng ở việc áp dụng những biện pháp kỹ thuật sẵn có trên mạng xã hội để loại bỏ những người truy cập vào các quảng cáo ở những độ tuổi nhất định.
Các hạn chế quảng cáo, khuyến mại đối với bia không những mâu thuẩn với các luật hiện hành mà còn không phản ánh được sự khác nhau giữa các loại bia, rượu vang và rượu mạnh. Các loại sản phẩm bia, rượu vang, rượu mạnh là rất khác nhau về nồng độ cồn và mức độ gây hại khi sử dụng. Hiệp hội khẳng định là không hợp lý nếu xem tất cả ba loại này giống như nhau, đặc biệt khi xét đến bia có nồng độ cồn thấp hơn nhiều cũng như tầm quan trọng đóng góp về kinh tế và văn hóa đối với Việt Nam. Bia là một phần trong cơ cấu văn hóa Việt Nam, và chủ yếu được sản xuất tại Việt Nam.
Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau
Về tên gọi của Luật
Theo báo cáo của Bộ Y tế, hiện nay trên thế giới chưa có nước nào xây dựng có tên là Luật phòng chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác. Nếu sử dung rượu, bia phù hợp với khuyến cáo của bác sỹ thì bản thân rượu, bia không có hại cho sức khỏe. Chỉ có lạm dụng rượu, bia mới gây ra tác hại đối với sức khỏe và WHO đã đề ra chiến lược toàn cầu về giảm thiểu tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn.
Vì vậy, Hiệp hội đã đề nghị sửa lại tên luật là Luật Kiểm soát đồ uống có cồn như thông lệ của một số quốc gia hiện nay đã xây dựng Luật hoặc Luật Phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn trong văn bản góp ý dự án luật gửi Bộ Y tế.
Tuy nhiên, trong Tờ trình, Bộ Y tế đã không nêu ý kiến của Hiệp hội về tên gọi: Luật Kiểm soát đồ uống có cồn mà chỉ nêu tên Luật Phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn?
Về tên gọi Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác cũng rất dài và hoàn toàn có thể thay thế cụm từ “rượu, bia và đồ uống có cồn khác” là “đồ uống có cồn” vừa ngắn gọn song lại đầy đủ nhất.
Vì vậy, Hiệp hội đề nghị sửa lại tên luật là Luật Kiểm soát đồ uống có cồn hoặc Luật Phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn.
Về kiểm soát hoạt động quảng cáo đối với bia và rượu dưới 15 độ:
Tại sao lại hạn chế quảng cáo đối với bia và rượu dưới 15 độ?
Việc hạn chế này sẽ gây ra nhiều hệ lụy: Người tiêu dùng không có cơ hội để phân biệt được các hoàng hóa, sản phẩm có chất lượng, Ngân sách nhà nước mất một khoản thu từ quảng cáo, ngành du lịch cũng bị ảnh hưởng...
alt
Việc bổ sung quy định hạn chế quảng cáo này sẽ làm gia tăng thêm cán bộ thi hành pháp luật về lĩnh vực này, điều này không phù hợp với chủ trương tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên chức quy định tại trong Nghị quyết số 39-NQ.TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị, Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ và tinh thần của Công văn số 65/TTg-TCCV ngày 13 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, cũng làm phát sinh thủ tục hành chính và hạn chế quyền chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp mâu thuẩn với tinh thần Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.
Việc cấm quảng cáo bia trên phương tiện truyền thông tại Việt Nam sẽ được dịch chuyển sang phương tiện truyền thông kỹ thuật số, mạng xã hội - theo đó phần lớn doanh thu sẽ phát sinh ở nước ngoài thay vì doanh thu này phải được phát sinh, chi tiêu tại Việt Nam. Kết quả này dựa trên xu thế hiện nay đang diễn ra sự thay đổi từ phương tiện truyền thông truyền thống sang phương tiện truyền thông kỹ thuật số (đặc biệt là đối với chi tiêu cho quảng cáo.
Kinh nghiệm của một số quốc gia cũng chỉ ra rằng, việc hạn chế quảng cáo không có tác dụng làm giảm việc sử dụng rượu, bia.
Về huy động nguồn kinh phí cho phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác và nâng cao sức khỏe từ khoản bắt buộc cho phòng, chống tác hại của rượu, bia và đồ uống có cồn khác và Quỹ nâng cao sức khỏe
Quy định về huy động nguồn kinh phí cho phòng chống tác hại của đồ uống có cồn từ các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu đồ uống có cồn vào một Quỹ nâng cao sức khỏe hoặc vào ngân sách nhà nước tại điều 19 của Dự Luật là trái với chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá, trái với chủ trương và hướng dẫn của Chính phủ về quỹ ngoài ngân sách, mâu thuẫn với lộ trình cải cách thuế, và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp, trong khi hiệu quả của quy định này đối với phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn chưa rõ ràng. Cụ thể là:
a) Phương án thành lập Quỹ nâng cao sức khỏe là trái với hướng dẫn của Chính phủ trong Công văn 1861/VPCP-KTTH ngày 01 tháng 3 năm 2017 về các quỹ ngoài ngân sách. Cụ thể là, “Bộ, cơ quan Trung ương được giao nhiệm vụ xây dựng dự thảo luật không bao gồm việc thành lập các quỹ tài chính, trừ trường hợp quỹ thực sự cần thiết và phải có năng lực tài chính độc lập, nguồn thu, chi tiêu không được chồng chéo với nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước theo Luật Ngân sách Nhà nước ... " Mặc dù chưa rõ liệu việc thành lập Quỹ Nâng cao Sức khoẻ có thực sự cần thiết và có hiệu quả đối với những mục đích đã đề ra trong Dự thảo Luật hay không, nguồn thu và chi tiêu của Quỹ này vì mục đích nâng cao sức khỏe chắc chắn sẽ có sự chồng chéo với các nhiệm vụ chi ngân sách khác.
b)    Chủ trương xã hội hóa và huy động nguồn lực xã hội là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, xã hội hoá không có nghĩa là áp đặt các khoản đóng góp bắt buộc của người dân và doanh nghiệp vào một quỹ do cơ quan nhà nước quản lý và sử dụng. Nghị quyết 05/2005/ND-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao khẳng định: “xã hội hoá nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao”. Nghị quyết cũng cụ thể hoá các nhiệm vụ xã hội hóa chủ yếu bao gồm: (1) nhà nước đổi mới cơ chế chính sách, đổi mới phương thức cơ cấu đầu tư; (2) chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính, bao cấp sang cơ chế tự chủ; (3) phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình dân lập và tư nhân; (4) tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra”. Vì vậy, quy định yêu cầu doanh nghiệp nộp tiền vào một quĩ để cơ quan nhà nước quản lý và sử dụng cho việc nâng cao sức khỏe là trái với tinh thần và chủ trương về xã hội hóa.
c)    Các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp đồ uống có cồn hiện đang tích cực triển khai và tham gia thực hiện các những chương trình phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn như các hoạt động phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Học viện Cảnh sát nhân dân và các địa phương nhằm tuyên truyền về an toàn giao thông, các chương trình về nâng cao năng lực cho cảnh sách giao thông, thành lập diễn đàn uống có trách nhiệm, chương trình hỗ trợ phụ nữ lên tiếng về uống có trách nhiệm, ... Những chương trình này đã phát huy được những hiệu quả tích cực trong việc phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn ở nhiều địa phương trong cả nước. Dự luật không những không có những quy định khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động phòng, chống tác hại của đồ uống có cồn mà còn làm giảm tính chủ động của doanh nghiệp trong các hoạt động này bằng việc yêu cầu các doanh nghiệp phải đóng góp vào một quĩ để cơ quan nhà nước quản lý và tự thực hiện các hoạt động này.
d)    Các doanh nghiệp sản xuất bia và rượu đang phải chịu mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là 65%. Việc điều chỉnh thuế suất đã được Bộ Tài chính và Chính phủ cân nhắc kỹ lưỡng và thực hiện theo lộ trình và kế hoạch để không gây ảnh hưởng lớn đến thị trường và doanh nghiệp.
Việc thu thêm từ 0,5% đến 1% như đề xuất ở Phương án 2 của Điều 19 là hoàn toàn không nằm trong kế hoạch và lộ trình cải cách thuế của Chính phủ. Phương án này không những đặt thêm gánh nặng cho doanh nghiệp vốn đã chịu mức thuế suất cao, trong khi hiệu quả trong việc phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia không rõ ràng. Câu hỏi mà các doanh nghiệp đặt ra và rất mong nhận được sự trả lời của các cơ quan chức năng là tại sao chính phủ không tận dụng tối đa nguồn thu ngân sách từ thuế TTĐB (ở mức thuế suất 65%) đối với mặt hàng rượu bia mà phải thu thêm 0,5% đến 1% nữa và liệu khoản thu thêm này có được sử dụng một cách hiệu quả hay không khi khoản nộp 65% doanh thu hiện nay của doanh nghiệp vào ngân sách cũng không phát huy được hiệu quả trong phòng, chống tác hại rượu, bia.
Hiện nay chỉ có 9 quốc gia trong tổng số 193 quốc gia là có quỹ về phòng chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn vì những lý do khác nhau.
Trong khối liên minh EU, nơi có mức độ tiêu thụ đồ uống có cồn cao, không có quốc gia nào có quỹ phòng chống tác hại của đồ uống có cồn hay áp dụng phụ thu thuế đối với đồ uống có cồn.  Ở những quốc gia có thành lập các quỹ tương tự, trong khi hiệu quả của những quỹ này đối với việc giảm tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn chưa được thấy rõ, đã có trường hợp những quỹ này bị lạm dụng. Trong số đó có Quỹ nâng cao sức khỏe của Thái Lan (ThaiHealth). Hiệp hội xin cung cấp các thông tin về Quỹ mà Bộ Y tế đã tham khảo để xây dựng Luật:
-    Quỹ Nâng cao Sức khỏe Thái Lan (ThaiHealth) được thành lập năm 2001theo Luật Nội các B.E. 2544, ThaiHealth ban đầu được hình thành từ khoản phí thu thêm 2% được tính dựa trên thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và thuốc lá chứ không phải từ dự án Luật Kiểm soát đồ uống có cồn năm 2008.
-    Năm 2016, Quỹ ThaiHealth bị cáo buộc sử dụng quỹ sai mục đích và chịu sự điều tra của Bộ Y tế Thái Lan. Theo kết quả điều tra của Tiểu ban Giám sát và Kiểm toán về Chi tiêu Tài chính (MACFE), 1.64 tỷ baht dành cho 515 dự án của Quỹ ThaiHealth đã bị phong tỏa. Ngoài ra, các dự án do ThaiHealth tài trợ với tổng giá trị hơn 5 triệu baht trong một năm cần phải được MACFE phê duyệt trước khi giải ngân.
-    Theo Điều 44 trong Hiến pháp tạm thời của Thái Lan, 7 thành viên hội đồng quản trị ThaiHealth bị cáo buộc xung đột lợi ích và bị đình chỉ công tác vào ngày 05 tháng 01 năm 2016.
-    Trong quá trình kiểm toán, báo cáo kiểm toán của Tiểu ban Quốc gia về Hòa bình và trật tự (NCPO) của Thái Lan nhấn mạnh việc quản lý kém và sử dụng sai mục đích ngân sách không liên quan đến nâng cao sức khỏe - hơn một nửa số tiền từ quỹ ThaiHealth đã được chi trả cho các dự án cải cách chính trị, quy trình bầu cử và đánh giá môi trường chính trị của Thái Lan. Những khoản chi tiêu bị phát hiện bao gồm: 33,45 triệu baht chi trả cho các sự kiện thiền định đại chúng tại các đền thờ và 96,5 triệu baht được chi trả cho 14 dự án tại Quỹ Phát triển Báo chí Thái Lan từ năm 2008 đến năm 2015.
Vì vậy, Hiệp hội đề nghị làm rõ cơ sở pháp lý của việc đặt ra Quỹ nâng cao sức khỏe và yêu cầu các doanh nghiệp phải đóng một khoản bắt buộc cho Quỹ này? Tại sao lại ghép với Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá?
Bộ Y tế tính toán sau khi Luật có hiệu lực thì sẽ thu được khoảng 215 tỷ đồng từ khoản đóng góp bắt buộc của các doanh nghiệp? Cơ sở nào để Bộ Y tế tính ra 215 tỷ, trong khi trong dự thảo Tờ trình gửi xin ý kiến trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ lại tính là 360 tỷ?
 Kiến nghị của Hiệp hội Bia-Rượu-Nước giải khát Việt Nam
Từ những phân tích trên đây, Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam xin kiến nghị với Hội đồng thẩm định:
1. Cần đánh giá, xem xét kỹ về sự cần thiết ban hành Luật vì những căn cứ, lý do nêu trong Tờ trình chưa bảo đảm tính chính xác và chưa thuyết phục và nội dung dự án Luật còn rất sơ sài, nhiều quy điịnh chưa phù hợp và khả thi;
2. Nếu xây dựng Luật, cần xem xét đổi tên thành Luật “Kiểm soát đồ uống có cồn” hoặc Luật “Phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn”;
3. Cần nghiên cứu, xem xét các quy định về các biện pháp kiểm soát giảm nhu cầu tiêu thụ rượu, bia, kiểm soát việc cung cấp rượu, bia và kiểm soát giảm tác hại của rượu, bia như thời gian và địa điểm bán rượu, bia và đồ uống có cồn khác phù hợp với thực tế và truyền thống của Việt Nam; đặc biệt nội dung quan trọng của Luật này là cần quy định cụ thể để kiểm soát thật tốt rượu thủ công. Đề nghị có sự phân biệt và quy định rõ về quảng cáo, tài trợ, khuyến mại giữa bia và rượu, giữa rượu vang và rượu mạnh và xóa bỏ các quy định về hạn chế quảng cáo với bia ra khỏi dự thảo Luật và hỗ trợ ngành để thiết lập cơ chế tự điều chỉnh phù hợp với các cam kết APEC và Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;
4. Không đưa quy định giới hạn thời gian bán bia vào dự thảo luật và chỉ giới hạn không được bán bia tại gần trường học, trung tâm y tế, địa điểm tôn giáo;
5. Đề nghị bỏ quy định thành lập Quỹ nâng cao sức khỏe hoặc đề xuất đóng góp bắt buộc trên cở sở tỷ lệ % trên giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt vào ngân sách nhà nước để chi riêng cho các hoạt động phòng, chống tác hại của rượu bia và nâng cao sức khỏe trong dự án Luật. Đề nghị quy định các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh rượu/bia phải bảo đảm các khoản chi hiện tại cho các chương trình “Uống có trách nhiệm” và khoản chi này chỉ đóng góp vào chương trình của Chính phủ nếu doanh nghiệp chưa tiến hành chiến dịch riêng của họ nhằm hạn chế sự xung đột giữa mục tiêu y tế và phát triển kinh tế - xã hội.
PV (theo nguồn VBA)
 
 

 

 






Liên kết website