Fanta – Từ chiến tranh đến hoà binh
Thứ hai, 16 Tháng 7 2012 10:36
Fanta là một nhãn hiệu đồ uống có ga nổi tiếng khắp thế giới do Coca-Cola phát triển. Đây cũng là một trong top 50 đồ uống ngon nhất thế giới do kênh truyền hình CNN Go của Hoa Kỳ bình chọn. Hiện nay, Fanta có mặt tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
alt
 
Cũng giống như Coca-Cola, Fanta ra đời từ nhu cầu phục vụ chiến tranh. Năm 1940, dưới thời kỳ Đệ tam Quốc Xã, chiến tranh Thế giới thứ hai bắt đầu lan rộng và ngày càng khốc liệt. Hoạt động thương mại quốc tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, xuất nhập khẩu của Đức bị gián đoạn kéo theo tình trạng khan hiếm nhiều mặt hàng trên thị trường Đức, trong đó có cả đồ giải khát như Coca-Cola. Mặc dù khi đó Coca-Cola chỉ làm một thứ xi-rô, song vì Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức nên Coca-Cola bị cấm xuất khẩu sang Đức. Max Keith, Giám đốc điều hành chi nhánh Coca-Cola tại Đức khi đó nhận thấy cần phải cho ra đời một thức uống mới để duy trì hoạt động của nhà máy. Do sự thiếu thốn nguyên liệu đầu vào, nên Keith quyết định pha chế sản phẩm mới từ bất kỳ nguyên liệu nào kiếm được. Chính điều này đã vô tình tạo ra một loại nước giải khát vô cùng thành công sau này. Sử dụng những thớ táo tươi còn thừa sau quá trình ép rượu táo, cộng với chút váng sữa, một phụ phẩm của quy trình làm phô mai, Keith và các đồng sự đã tìm thấy thứ họ cần. Sản phẩm mới màu vàng và hơi khác màu cam một chút. Ban đầu, nó có vị cam, làm ngọt bằng đường nhân tạo sacarin, sau đó hương vị thay đổi nhiều lần tuỳ theo nguyên liệu sẵn có và sử dụng đường glucoza từ củ cải làm chất tạo ngọt (3,5%). Cuối cùng, người ta phát động một cuộc thi đặt tên trong phạm vi toàn nhà máy. M.Keith khi đó nói với nhân viên của ông (bằng tiếng Đức) rằng, hãy phát huy tối đa trí tưởng tượng (Fantasie) của họ, ngay lập tức, một nhân viên kinh doanh tên là Joe Knipp đề xuất đơn giản hoá từ Fantasie (tiếng Đức nghĩa là “sức tưởng tượng”), thế là cái tên Fanta ra đời năm 1941. Sau khi xuất hiện, Fanta nhanh chóng trở thành đồ uống phổ biến trong chế độ Quốc Xã và được cả Hít-le ủng hộ. Từ khi có Fanta, nhà máy của Coca-Cola duy trì được hoạt động bình thường, tính đến 1943, khoảng 3 triệu chai Fanta được tiêu thụ. Điều thú vị là, người ta không phải chỉ coi Fanta là nước giải khát, mà còn là phụ gia thực phẩm nữa. Vì trong Fanta có đường, một gia vị khan hiếm thời bấy giờ, nên nhiều bà nội trợ trộn luôn Fanta vào món thịt hầm hoặc súp, tất nhiên là không đủ lượng đường cần thiết.

alt
Về bản chất, Fanta có nhiều nét tương đồng với Coca-Cola, song do những rắc rối về chính trị, Coca-Cola là sản phẩm được quân Đồng minh ưa chuộng, còn Fanta dành cho quân Đức, nên người ta cố tình thiết kế nhãn của hai loại sản phẩm này khác nhau để tránh hiểu lầm. Thật trớ trêu là, trước chiến tranh, Coca-Cola chỉ gặt hái được thành công tại thị trường hải ngoại duy nhất là Đức. Doanh thu của hãng tăng đều hàng năm, thậm chí đến năm 1939, Coca-Cola có đến 600 nhà phân phối tại Đức. Do sự xuất hiện của Fanta, ban lãnh đạo Coca-Cola bối rối vì bị chính phủ Mỹ buộc tội “tiếp tay cho kẻ thù”. Coca-Cola nghi ngờ bị chính “người mình” phản bội. Sự hỗn loạn thông tin thời chiến khiến việc xác minh lòng trung thành của M.Keith trở nên khó khăn. Cuối cùng, hãng quyết định biệt phái hẳn một thành viên ban kiểm soát lọt vào hang sói Quốc Xã để điều tra. Kết luận đưa ra là, M.Keith chưa bao giờ phản bội tổ quốc. Ông phát minh ra Fanta chỉ nhằm mục đích bảo vệ nhà máy của Coca-Cola, vì nếu không thể hoạt động, nó sẽ bị trưng dụng cho mục đích quân sự. Nhờ có Keith, nhân viên và công nhân của nhà máy vẫn có việc làm trong bối cảnh thất nghiệp tràn lan. Bản thân Keith phải chịu rất nhiều áp lực vì bất hợp tác với chế độ Quốc Xã. Sau chiến tranh, Keith xây dựng được nền móng vững chắc để đưa Coca-Cola trở lại thị trường Đức. Năm 1960, sau khi mở một nhà máy mới tại Mỹ, Coca-Cola quyết định rao bán lại nhãn hiệu này song bất thành. Đến thời điểm đó, Fanta có hơn 70 hương vị khác nhau (Fanta cam chiếm tỷ lệ cao nhất), được tiêu thụ nhiều nhất tại Bra-xin. Người anh em của nó là Sprite chỉ thành công trên thị trường quốc nội (Hoa Kỳ), còn tại hải ngoại, Fanta là số một. Nó cũng là đồ uống chủ yếu tại châu Âu và Nam Mỹ. Trên con đường khẳng định giá trị đó, không phải không có thách thức. Những năm 50 của thế kỷ trước, Pepsi liên tục tung ra các sản phẩm mới, còn Coca-Cola có hai sản phẩm là Coca-Cola loại 180ml và Fanta. Để tăng sức cạnh tranh, Coca-Cola phục hồi lại Fanta cam và nhắm tới những thị trường phi truyền thống. Sản phẩm mới nhanh chóng chinh phục người tiêu dùng tại châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh, bổ sung thêm cho bộ sưu tập hương vị của Fanta. Đầu những năm 70, Fanta bị chỉ trích dữ dội vì sử dụng phẩm màu nhân tạo. Mặc dù chứng minh được những hoá chất đó không ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, song để không tiếp tục bị các đối thủ lợi dụng, Fanta buộc phải chuyển sang sử dụng phẩm màu tự nhiên. Doanh số tiêu thụ vẫn tổn thất trong 5 năm kế tiêp trước khi lấy lại đà tăng trưởng. Năm 1979, Fanta chính thức ra mắt tại Liên Xô (cũ).
Tại các nơi đặt chân tới, Fanta được gọi bằng các tên khác nhau. Tại Ru-ma-ni, Secsbia, Bosnia, Ấn Độ, Mác-xê-đô-ni-a và nhiều nước Ban-tích, Fanta được gọi là Shokata, bắt nguồn từ từ Socată, một thức uống chiết xuất từ quả cây cơm cháy. Tại Hà Lan và Thuỵ Sĩ, người ta có Fanta phúc bồn đen. Tóm lại, nơi nào sử dụng hương liệu nào để tạo hương vị Fanta thì láy tên hương vị đó theo sau nhãn hiệu Fanta. Tại Bỉ, có Fanta Funky Orange, còn ở Anh thì có Fanta Zero (còn gọi là Fanta Z) dành cho người ăn kiêng. Tại Tây Ban Nha, người ta sáng tạo hẳn ra một từ mới là Pagafantas, nghĩa là “người thích Fanta” để ám chỉ những anh chàng yêu đơn phương.
 
Có sự khác biệt giữa Fanta “nội” và Fanta “ngoại”. Fanta “nội”, tức là Fanta của Mỹ, sử dụng phẩm màu nhân tạo và không có vị hoa quả; trái lại, Fanta “ngoại” dùng phẩm màu tự nhiên và có vị hoa quả. Hơn nữa, Fanta “nội” sử dụng brôm nguồn gốc thực vật nên có vị như kẹo. Song sản phẩm này không được xuất khẩu, thậm chí còn bị cấm tại Án Độ và châu Âu do những lo ngại về sức khoẻ.
 
Một bí quyết thành công khác của Fanta là quảng cáo. Lần đầu tiên ra mắt tại Hao Kỳ, người ta thuê nhiều cô người mẫu mặc các trang phục màu sắc khác nhau, đại diện cho các hương vị của Fanta để tiếp thị. Lần tái xuất thứ hai (2001), Coca-Cola thuê hẳn công ty quảng cáo chuyên nghiệp Ogilvy. Đội ngũ ý tưởng viên của Ogilvy gồm Andrea Scaglione, Adrew Ladden và Bill Davaris sáng tác kịch bản chương trình có tên “Wanta Fanta!” Làm xương sống của chiến dịch truyền thông, kéo dài từ mùa hè 2001 đến tậ đầu thánh 10/2006 gây tiếng vang lớn. Tháng 6/2009, nhà sản xuất tổ chức cuộc thi tìm ý tưởng cho sản phẩm mới Fanta dứa. Người thắng cuộc là cô Shakira Barrera mất một năm rưỡi để trình làng sản phẩm mới, gọi là Lily. Ba tháng sau, một cuộc thi khác được tổ chức để tìm ra slogan (câu khẩu hiệu) ấn tượng nhất, người đoạt giải là Brittany Hampton với slogan “Thêm Fanta, Bớt ưu tư!”. Từ đó, việc tổ chức các cuộc thi cộng đồng để tìm kiếm ý tưởng hoặc quảng bá cho sản phẩm mới đã trở thành thông lệ đối với các công ty xuyên quốc gia.

Kể từ khi hồi sinh mạnh mẽ từ những năm 90 trở lại đây, Fanta luôn nằm trong top 10 đồ uống được ưa thích nhất trên thế giới, vượt qua hàng loạt đối thủ tên tuổi như Tango, Mirinda, Slice, Sumol, Crush hay Tropicana Twister, với hơn 100 hương vị khác nhau. Câu chuyện về sự ra đời của Fanta được coi là một bộ phim tư liệu về cuộc đấu tranh sinh tồn từ chiến tranh đến hoà bình.

Quang Nhật (Tổng hợp)

 

 



 
 




Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay7036
mod_vvisit_counterHôm qua13991
mod_vvisit_counterTuần này35746
mod_vvisit_counterTuần trước90991
mod_vvisit_counterTháng này201456
mod_vvisit_counterTháng trước369180
mod_vvisit_counterTất cả26752542