Ngành sản xuất nước giải khát Việt Nam trên phương diện cạnh tranh
Thứ tư, 27 Tháng 11 2013 14:29
Là một trong những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của con người, sản phẩm nước giải khát của Việt Nam đang có xu hướng phát triển nhanh trong thời gian gần đây.
Xét trên phương diện cạnh tranh, thị trường nước giải khát đang có những biểu hiện đáng quan tâm.
Theo một báo cáo gần đây của Cục quản lý cạnh tranh, trên thị trường nước giải khát (NGK) Việt Nam hiện có khoảng 300 loại NGK với nhiều tính năng, tác dụng khác nhau như giải nhiệt, đẹp da, giảm béo, chữa bệnh, tăng cường sức khỏe…Tạm thời chúng ta có thể phân loại NGK theo  03 nhóm sau đây:
- Nhóm nước ngọt có gas như Coca - Cola, Pepsi, 7-Up, Mirinda, Twister, Sting, Cola Number One, Cream Soda Number One, Soda…
- Nhóm nước ngọt không có gas như nước ép trái cây, sữa đậu nành, Trà xanh Không độ, nước yến, cà phê đóng lon, nước tăng lực Number One…
- Nhóm nước khoáng, nước tinh khiết đóng chai, đóng bình như La Vie, Aquafina, Vĩnh Hảo…
Tổng sản lượng các loại nước giải khát nói trên đã đạt 3.013 ngàn lít năm 2010, năm 2011 đạt 3.907 ngàn lít và năm 2012 đạt 4.055 ngàn lít . Nếu so với mặt hàng bia, mức bình quân đầu người mới đạt gần 30 lít/năm 2012, thì bình quân đầu người về nước giải khát đã cao gấp rưỡi, đạt 45,6 lít/người/năm 2012, gần bằng mức bình quân đầu người 50 lít của Phillipin.
alt
IẢnh minh họa.
Đánh giá về năng lực sản xuất NGK nói chung của Việt Nam một cách khá chi tiết cho đến nay chưa có một báo cáo cụ thể nào. Theo thống kê đến 2012 cả nước có 134 doanh nghiệp (DN) sản xuất,  gồm các DN trong nước và có vốn FDI, trong đó  có 10 DN được coi là dẫn đầu (tính theo doanh thu) như Công ty NGK quốc tế IBC (DN FDI), Tập đoàn Tân Hiệp Phát, Coca - Cola Việt Nam (FDI) , Công ty CN chế biến thực phẩm quốc tế, Công ty CP NGK Sài Gòn – Tribeco, Công ty TNHH Red Bull VN (FDI)… Việc có mặt khoảng 50% số doanh nghiệp trong tốp dẫn đầu thị trường NGK là các doanh nghiệp FDI và  hàng trăm các doanh nghiệp trong nước khác, chứng tỏ sức thu hút to lớn của thị trường này.
Xét về trình độ máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất NGK ở Việt Nam thì máy móc, thiết bị đang được sử dụng có đến 52% là lạc hậu và rất lạc hậu, 38% trung bình, chỉ có 10% hiện đại. Tỉ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2% (trong khi Thái Lan tỷ lệ này là 31%, Malaysia là 51% và Singapore là 73%) . Tuy nhiên, Việt Nam có thuận lợi về nguồn “đầu vào”, đó là nguồn trái cây tươi (riêng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng 2,93 triệu tấn/năm, nguồn nước khoáng có trữ lượng lớn (hiện có 287 nguồn nước khoáng), trong đó ở miền Tây Bắc bộ có 87 nguồn, Đông Bắc bộ 14 nguồn, đồng bằng Bắc bộ 17 nguồn, Bắc Trung bộ 22 nguồn, duyên hải Nam Trung bộ 56 nguồn, cao nguyên Nam Trung bộ 24 nguồn, Đông Nam bộ 13 nguồn và Đồng bằng sông Cửu Long 54 nguồn . Ngoài ra, Việt Nam còn có các nguồn nông sản khác như đậu tương đang được dùng vào chế biến nước bổ dưỡng như sữa đậu nành Vinasoy, Fami của Công ty CP Sữa đậu nành Việt Nam .
Theo một báo cáo của tổ chức Business Monitor International – BMI, tốc độ tăng trưởng kinh doanh NGK trong 5 năm từ 2013 đến dự báo 2017 sẽ có mức tăng khoảng 20% khi thu nhập đầu người dân tăng lên, chất lượng cuộc sống được cải thiện. Chính vì vậy mà trong năm 2010 vừa qua, việc nhập khẩu NGK về Việt Nam, nhất là các loại NGK có gas như sản phẩm Coca - Cola , Redbull…đã xảy  ra. Điều này cũng cho thấy năng lực sản xuất trong nước về một số loại sản phẩm còn thấp hơn nhu cầu.
Quá trình phát triển sản xuất của ngành NGK Việt Nam cũng bắt đầu chủ yếu từ phia Nam đất nước, mở rộng dần ra các địa phương miền Bắc, rồi tới các địa phương miền Trung. Trong quy hoạch phát triển ngành sản xuất Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025, chỉ tiêu sản lượng NGK đến 2015 là 4 tỷ lít, phân bố các vùng là 1.188 ngàn lít tại miền Bắc, 603 ngàn lít tại miền Trung và 2.209 ngàn lít tại niềm Nam; sản lượng đến năm 2025 là 11 tỷ lít, phân bố lần lượt tại các vùng trên là 3.436 – 2.511 – 5.053 ngàn lít.  Tuy nhiên, mục tiêu quy hoạch tới 2015 đã được thực hiện từ năm 2012 và dự báo mục tiêu năm 2025 cũng sẽ bị phá vỡ nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng như vừa qua. Điều này đặt ra sự cần thiết phải hoạch định một bản chiến lược (hiện nay chưa có) và quy hoạch mới cho thời gian tới năm 2025, có tầm nhìn  đến năm 2035. Bên cạnh việc định hướng bố trí lại địa bàn sản xuất trên các vùng sao cho phù hợp và kinh tế nhất, cần định hướng phát triển cả chủng loại sản phẩm, sử dụng công nghệ, thiết bị, bao bì để bảo đảm những tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, góp phần nâng cao sức khỏe người tiêu dùng, bảo đảm môi trường, tạo cơ sở thúc đấy phát triển các ngành sản xuất hỗ trợ như bao bì, trồng trọt, chăn nuôi…Theo báo cáo của Cục quản lý cạnh tranh, một thống kê của Nielsen về thị phần theo nhãn hiệu NGK năm 2011 cho thấy, sản phẩm Trà xanh Không độ chiếm 13% thị phần, C2 chiếm 8,1%, Sting chiếm 5,7%, Coca-Cola chiếm 5,4%, Number One và Trà thảo mộc Dr Thanh cùng có mức 4,9%, Pepsi 4,7%, Red Bull  3,6%...Tuy nhiên, xét theo doanh nghiệp thì trong số hơn 130 doanh nghiệp sản xuất NGK có 10 doanh nghiệp thuộc top đầu, đó là: Công ty NGK IBC, Công ty TNHH TM&DV Tân Hiệp Phát, Công ty TNHH NGK Coca Cola Việt Nam, Công ty CN chế biến thực phẩm quốc tế , Công ty CP NGK Sài Gòn Tribeco, Công ty TNHH Red Bull Việt Nam, Công ty LD Lavie, Công ty CP NGK Chương Dương, Công ty TNHH CKL, Công ty CP Nước khoáng Vĩnh Hảo. 10 DN này đã chiếm từ 96,67% (năm 2010) đến  91,16%  thị phần cả nước (năm 2011). Nhưng đến năm 2012 lại tụt xuống còn 75,64% cho thấy thị phần của các DN ngoài top 10 này lại tăng nhanh (từ 3,33% năm 2010 lên 24,36% năm 2012), chứng tỏ thị trường NGK rất hấp dẫn, việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khá thuận lợi. Tỷ lệ thị phần của các doanh nghiệp thuộc top đầu cũng luôn thay đổi.  Sau đây là thị phần của 5 doanh nghiệp dẫn đầu qua khảo sát 3 năm 2010-2012:
Tên Doanh nghiệp 2010 2011 2012
Công ty NGK IBC 35,78
31,55
25,50
Công ty TNHH TM&DV Tân Hiệp Phát 18,54
23,27
22,65
Công ty TNHH NGK Coca Cola VN 16,33
14,53
10,50
Công ty CN Chế biến TP quốc tế
9,71
6,04
3,37
Công ty CP NGK Sài Gòn Tribeco
4,25
4,02
2,89
Qua  đó cho thấy, thị phần của 2 doanh nghiệp  FDI đứng  đầu có xu thế giảm dần, trong khi thị phần của Tân Hiệp Phát, doanh nghiệp vốn trong nước có xu hướng tăng và giữ khá ổn định. Điều này cũng phản ánh xu hướng tiêu dùng các loại thức uống không gas, thức uống bổ dưỡng, thức  uống tinh khiết ngày một gia tăng. Tuy vậy, xét về mức độ tập trung thị trường thì chỉ số CR3 của 3 DN trong top đầu chiếm 70,65% (năm 2010), 69,35% (năm 2011) vượt ngưỡng 65% theo quy định của Luật cạnh tranh và được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường, tuy sang năm 2012 có giảm thấp hơn ngưỡng do thị phần được phân bổ sang các doanh nghiệp khác, nhưng vẫn duy trì vai trò thống lĩnh. Đồng thời, xét mức độ tập trung thì chỉ số HHI của thị trương NGK trong giai  đoạn 2010-2012 luôn vượt ngưỡng 1800, thể hiện mức độ tập trung là rất cao .
Nước giải khát là một mặt hàng tiêu dùng cần thiết cho con người. Một trong những yêu cầu của sản phẩm là phải bảo đảm chất lượng, bảo đảm an tòan thực phẩm để bảo vệ sức khỏe. Thêm nữa, nhu cầu của người tiêu dùng lại rất đa dạng nên tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt. Xu hướng sử dụng những sản phẩm chiết suất từ các loại quả cây ngày càng gia tăng, bởi chúng có những ưu điểm mà thức uống có gas thường không có được. Cũng chính vì vậy mà tình trạng làm hàng nhái, hàng giả những thương hiệu uy tín vẫn xảy ra, đôi khi rất phức tạp. Cho dù tham gia thị trường NGK hiện có tới hàng trăm doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp lớn, có thương hiệu vẫn giữ vai trò thống lĩnh, khó thay đổi. Tình trạng chuyển giá ở một số DN FDI, tính không công bằng trong chi phí quảng cáo, tiếp thị  áp dụng giữa hai loại hình doanh nghiệp FDI và  DN vốn trong nước khác nhau, đã làm cho khả năng cạnh tranh của các DN vốn trong nước bị hạn chế hơn. Ngoài ra, ngay trong nhóm các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm mang tính chất cùng loại cũng có những hành vi cạnh tranh thông qua việc giảm giá bán sản phẩm, phát triển hệ thống bán hàng, mua cổ phần của nhau để thôn tính dần nhau, nhất là với những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, sức cạnh tranh yếu. Trước sức mạnh của các doanh nghiệp top đầu, các doanh nghiệp khác đã và đang tìm những hướng đi riêng của mình, nhất là tìm ra “thị trường nhánh” những sản phẩm mới để phát triển. Đồng thời cũng đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước cần có một chiến lược phát triển ngành Đồ uống của Việt Nam không chỉ phục vụ cho một thị trường 90 triêu dân trong nước mà phải vươn ra ngòai nước, cần định hướng phát triển các đồ uống có vitamin, chất bổ dưỡng để thực sự hỗ trợ cho sức khỏe của người tiêu dùng./.

Lê Được

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 


Tìm chúng tôi trên Facebook




 



 





Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3434
mod_vvisit_counterHôm qua16999
mod_vvisit_counterTuần này3434
mod_vvisit_counterTuần trước119879
mod_vvisit_counterTháng này365460
mod_vvisit_counterTháng trước515494
mod_vvisit_counterTất cả30089468
  Hội đồng Biên tập:
Chủ tịch: PGS. TS Nguyễn Văn Việt - Chủ tịch VBA
Các ủy viên:
THS. Nguyễn Tiến Vỵ
Văn Thanh Liêm
GS. TS Đinh Văn Thuận
Nhà sử học Dương Trung Quốc

Phó Tổng biên tập phụ trách:
 
Nhà báo Nguyễn Văn Chương