Xu hướng marketing trong điều kiện hội nhập
Thứ ba, 13 Tháng 5 2014 15:11
Thế giới mà chúng ta đang sống ngày càng trở nên phẳng ra, cạnh tranh dường như trở thành không biên giới bởi sự bùng nổ của công nghệ kỹ thuật số.
Sự kết nối của các thành viên trong cộng đồng giờ đây trở nên nhanh chóng và đơn giản hơn bao giờ hết. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã đem lại nhiều khả năng mới cho người tiêu dùng và doanh nghiệp. Vì vậy, marketing trong thời đại ngày nay cũng cần có những thay đổi cho phù hợp với xu thế toàn cầu hóa. Bài viết tập trung phân tích 03 vấn đề: Bản chất của hoạt động marketing; Ảnh hưởng của cách mạng kỹ thuật số tới hoạt động marketing; Chính sách marketing trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế.
alt
1. Bản chất của hoạt động Marrketing
Philip Kotler cho rằng: “Marketing là một quá trình các công ty sáng tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ vững chắc với khách hàng để thu hút giá trị từ khách hàng”. Có thể nói rằng, ở Việt Nam trước những năm 1986 thuật ngữ “Marketing” không hề được nhắc tới, bởi lẽ nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ vận hành theo cơ chế bao cấp. Khi đó, tất cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là do Nhà nước cung cấp và các sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp cũng do chính Nhà nước bao tiêu. Vì vậy, doanh nghiệp không cần phải tìm kiếm khách hàng và càng không cần phải quan hệ và giữ chân khách hàng. Song giờ đây, khi nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình vận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới, hoạt động marketing trở nên có vai trò quan trọng và sống còn với mỗi doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường, khách hàng là lý do tồn tại của doanh nghiệp, mà muốn thu hút và giữ chân được khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải hoạt động Marketing. Mục tiêu của Marketing là đem lại sự thỏa mãn tối đa, thậm chí là vượt mong đợi của khách hàng, nhưng suy cho cùng vẫn phải đảm bảo sao cho doanh nghiệp có lợi nhuận. Tác giả cuốn “Tư duy lại tương lai” đã từng nói: “Người chiến thắng ở thế kỷ 21 là người biết đứng trước đường cong của sự thay đổi”. Điều đó có nghĩa rằng, các doanh nghiệp muốn tồn tại bền vững trong thời đại ngày nay cần phải hiểu rất rõ và chính xác “đường cong của sự thay đổi” đó nó đang và sẽ  vận động theo hướng nào, để từ đó có thể điều chỉnh cho phù hợp với những gì đang diễn ra, đồng thời đón đầu những gì sẽ đến. Nhiệm vụ đó thuộc về lĩnh vực Marketing của doanh nghiệp.
Các nhà nghiên cứu còn cho rằng: “Marketing là một quá trình xã hội và quản lý, qua đó các cá nhân và các nhóm người có được cái mình cần thông qua việc tạo ra, trao đổi sản phẩm và các giá trị với người khác”. Điều đó có nghĩa rằng, nhiệm vụ của Marketing không phải chỉ dừng lại ở chỗ làm sao để khách hàng có được sản phẩm hữu hình mà họ cần, mà còn phải tạo ra cho họ những “giá trị tăng thêm”. Chẳng hạn, khi khách hàng mua ôtô Mercedes, ngoài việc khách hàng có được một phương tiên vận chuyển có chất lượng cao, họ còn cảm thấy mình sang trọng hơn, đẳng cấp hơn khi sử dụng chiếc ôtô đó. “Giá trị tăng thêm” càng khác biệt, càng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp càng thành công. Philip Kotler đã từng nói: “Chìa khóa chiến thắng trên thương trường là hiểu được nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu và đem lại cho khách hàng mục tiêu giá trị vượt trội so với giá trị cảm nhận của đối thủ để giành lấy sự trung thành của khách hàng”
Để có thể thực hiện được những nhiệm vụ trên, hoạt động marketing trong doanh nghiệp cần được thực hiện theo quy trình: R-S-T-P-MM-I-C
- R (Market research): Nghiên cứu thị trường.
- S (Market segmentation): Phân đoạn thị trường.
- T (Market targeting): Lựa chọn thị trường mục tiêu.
- P (Brand positioning): Định vị thương hiệu.
- MM (Marketing Mix): Chính sách marketing hỗn hợp (04 P căn bản và các P khác).
- I (Implementation): Tổ chức thực hiện các hoạt động marketing.
- C (Controlling): Kiểm soát việc thực hiện các hoạt động marketing.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp cần phải sản xuất ra những cái mà thị trường cần, chứ không phải chỉ sản xuất ra những thứ mà doanh nghiệp có thể sản xuất ra được. Chính vì vậy, khi tham gia thị trường, việc đầu tiên doanh nghiệp cần phải làm đó là nghiên cứu thị trường để biết được trên thị trường có những nhu cầu nào đang tồn tại, đồng thời phải dự đoán chính xác xu thế biến động của thị trường sẽ kéo theo những nhu cầu nào sẽ xuất hiện. Với những nguồn lực hữu hạn của mình, ngày nay các doanh nghiệp thường không thể đáp ứng được tất cả các nhu cầu đang có trên thị trường, mà thường có xu hướng chỉ tập trung vào một hoặc một số đoạn thị trường nào đó mà doanh nghiệp có ưu thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh. Vì thế, việc tiến hành phân đoạn thị trường theo nhiều tiêu thức là không thể thiếu để từ đó doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình đoạn thị trường mục tiêu phù hợp nhất. Doanh nghiệp có thể lựa chọn một số trong số các tiêu thức để phân đoạn như: khu vực địa lý, lứa tuổi, thu nhập, ngành nghề….. Căn cứ vào “đặc trưng cần có” của đoạn thị trường mục tiêu đã lựa chọn, doanh nghiệp cần sản xuất ra sản phẩm có thể thỏa mãn tốt nhất, thậm chí vượt mong đợi “đặc trưng cần có” đó. Đây chính là nhiệm vụ của “định vị thương hiệu”. Chẳng hạn, một doanh nghiệp sản xuất thuốc đánh răng đã lựa chọn đoạn thị trường thuốc đánh răng cho trẻ em. Vậy “đặc trưng cần có” nhất của đoạn thị trường này chính là “không sâu răng”, vì thế sản phẩm thuốc đánh răng mà doanh nghiệp sản xuất ra phục vụ đoạn thị trường này cần có “đặc tính cốt lõi” không thể thiếu đó là “ngăn ngừa sâu răng hiệu quả nhất”. Nếu như trên thị trường đang tồn tại các loại thuốc đánh răng dành cho trẻ em có khả năng ngăn ngừa sâu răng hiệu quả sau 1 tháng sử dụng, thì doanh nghiệp cần phải tìm ra được công thức pha chế thuốc đánh răng để trẻ em có thể ngăn ngừa được sâu răng sau 2 hoặc 3 tuần sử dụng. Ngoài ra doanh nghiệp cần bổ sung thêm một số tính năng hỗ trợ khác bên cạnh “đặc tính cốt lõi” như: mầu sắc hấp dẫn, mùi thơm của các loại hoa quả mà trẻ em thích, hộp thuốc đánh răng mang hình những con vật  mà trẻ em yêu quý…. nhằm khuyến khích trẻ sử dụng thuốc đánh răng. Để khách hàng biết được mọi thông tin về sản phẩm, mua sản phẩm, tiếp đến là trung thành với sản phẩm, đồng thời không những chỉ một mình sử dụng sản phẩm mà còn tạo ra hiệu ứng sử dụng sản phẩm với những người xung quanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt các chính sách marketing hỗn hợp như: sản phẩm (product), giá (price), phân phối (place), hỗ trợ tiêu thụ (promotion), nhân sự (people), quá trình (process), phương tiện hữu hình (physical evidence), lợi nhuận (profit), bao gói (packaging), tốc độ tiến triển (pace), position (vị thế), policy (chính sách)… Chính sách marketing hỗn hợp không chỉ dừng ở việc quảng bá sản phẩm, mà còn nhằm khắc sâu “đặc trưng cốt lõi” của sản phẩm trong quá trình tạo dựng “hình ảnh thương hiệu” trong tâm trí người tiêu dùng. Chúng ta biết rằng, “đặc tính cốt lõi” của sản phẩm là do doanh nghiệp tạo nên, “hình ảnh thương hiệu” tồn tại trong tâm trí khách hàng có được qua cảm nhận. “Hình ảnh thương hiệu” càng “gần” với “đặc tính cốt lõi” bao nhiêu thì sản phẩm càng có cơ hội trở thành thương hiệu và thương hiệu mạnh bấy nhiêu.
Tất cả các công đoạn kể trên, từ “nghiên cứu thị trường” cho đến việc đề ra các “chính sách marketing hỗn hợp” được tập hợp lại trong giai đoạn được gọi là “Hoạch định marketing”. Sau khi công tác “hoạch định” đã được thực hiện, tất yếu sẽ phải có giai đoạn tiếp sau, đó là “tổ chức thực hiện” và trong quá trình “hoạch định” cũng như “tổ chức thực hiện” không thể thiếu một hoạt động rất quan trọng đó là “kiểm soát”. Công tác “kiểm soát” giúp chúng ta có thể kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động marketing nếu thấy cần thiết.
alt
2. Ảnh hưởng của cách mạng kỹ thuật số tới hoạt động marketing
Cách mạng khoa học – kỹ thuật là một bộ phận không thể tách rời khỏi sự phát triển của xã hội và con người. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại đã đem lại sự thay đổi to lớn mang tính bước ngoặt trong sự phát triển của xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước nhảy vọt chưa từng thấy trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới có liên quan đến sự tiến triển của khoa học và công nghệ (công nghiệp tên lửa, điện tử, vi sinh...) và thay đổi hoàn toàn cơ cấu các ngành kinh tế ở nhiều khu vực. Tất cả những thay đổi to lớn trong công nghệ và sản xuất đã tạo ra những thiết bị sinh hoạt, hàng tiêu dùng mới, làm thay đổi hoàn toàn lối sống của con người trong xã hội.
“Cuộc cách mạng kỹ thuật số là cuộc cách mạng không thể tránh khỏi, được so sánh với việc phát minh ra động cơ hơi nước và đánh dấu sự bắt đầu của một thời đại công nghiệp” Gérard Berry, nhà nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, Trưởng khoa Khoa học máy tính và kỹ thuật số của Đại học Pháp năm 2009 – 2010, cho biết. Có thể nói rằng, chúng ta đang bước vào thời đại kỹ thuật số, và các ngành công nghiệp truyền thống như viễn thông và giáo dục văn hoá đang trải qua những biến đổi mạnh mẽ. Những ngành khác như công nghệ thông tin và các dịch vụ liên quan đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Đặc biệt, Internet đã cách mạng hoá thông tin liên lạc bởi nó loại bỏ được các hạn chế về khoảng cách, thời gian và khối lượng.
“Thế giới phẳng” đã mang lại cho chúng ta rất nhiều cơ hội, song cũng không ít nguy cơ, nếu chúng ta không biết điều chỉnh cho phù hợp với xu thế. Trước đây, để bán hoặc mua được hàng, chúng ta cần rất nhiều thời gian, công sức thậm chí là tiền bạc để tiếp cận với đối tác, tìm hiểu trực tiếp sản phẩm và đưa ra quyết định. Nhưng giờ đây, chỉ cần một cú nhấp chuột máy tính sẽ xuất hiện vô số các sản phẩm, dịch vụ từ khắp nơi trên thế giới, với vô số thông tin bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau để khách hàng lựa chọn. Dịch vụ qua mạng sẽ đáp ứng khách hàng mọi lúc, mọi nơi. Với xu hướng mua hàng trong điều kiện mới như vậy, để có được khách hàng, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp cần ứng xử linh hoạt nhằm đáp ứng các nhu cầu mua hàng gắn liền với sự phát triển của công nghệ thông tin. Nếu như trước đây khách hàng có thói quen mua hàng tại các cửa hàng bán lẻ, siêu thị…thì giờ đây hoạt động kinh doanh trực tuyến đã dần trở nên phổ biến. Vì vậy, để bán được hàng trong điều kiện mới, các doanh nghiệp cần chú trọng phát triển thương mại điện tử bằng việc đăng ký tên miền, mở website. Nhằm thu hút được nhiều khách hàng truy cập website, doanh nghiệp cần có những kỹ năng nhất định trong việc đặt tên miền sao có sức hấp dẫn, nhưng phải gắn với tên sản phẩm, tên công ty… hoặc đăng ký tên miền theo kiểu bao phủ. Ví dụ như Tổng cục Du lịch Việt Nam hiện đã đăng ký và đang sử dụng trên 40 tên miền cho website của Tổng cục. Với sự phát triển của kỹ thuật số, sự kết nối giữa doanh nghiệp và khách hàng được nhanh chóng hơn, ít tốn kém hơn, thông tin phong phú hơn, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm, doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của từng cá nhân khách hàng, thậm chí khách hàng còn có thể chủ động tương tác với nhà sản xuất để thiết kế sản phẩm, dịch vụ theo sở thích của mình. Như vậy, từ chỗ chỉ dựa vào một công cụ truyền thông chủ yếu là lực lượng bán hàng và quảng cáo, doanh nghiệp đã sử dụng tổng hợp các công cụ truyền thông nhằm thiết lập hình ảnh thương hiệu tại mỗi điểm tiếp xúc của doanh nghiệp với khách hàng.
alt
3. Chính sách marketing trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế
3.1. Chính sách sản phẩm (product)
“Khác biệt hay là chết”, “Khác biệt để bứt phá” – đó là tiêu đề của 02  trong nhiều cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ trong thời gian qua. Điều đó khẳng định rằng, doanh nghiệp muốn tồn tại được trong một môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, muốn gặt hái thành công, cần tạo ra những sản phẩm có tính năng độc đáo, vượt trội so với đối thủ cạnh tranh, đánh đúng và trúng tâm lý người tiêu dùng. Ví dụ như trên thế giới, thời gian vừa qua đã có những doanh nghiệp rất thành công từ hoạt động cung cấp những sản phẩm: xe hơi biết bay; khách sạn dành cho chó, mèo; bệ toilet phát ra tiếng nhạc khi dùng, máy giặt sử dụng công nghệ nano (không cần xà phòng), kinh doanh đất trên mặt trăng….
3.2. Chính sách giá (price)
Các doanh nghiệp thường hay có thói quen định giá dựa trên chi phí mà không tính đến việc định giá dựa trên giá trị khách hàng và các yếu tố ngoại lai khác. Trong nhiều trường hợp, muốn bán được nhiều hàng, tăng doanh thu… doanh nghiệp thường hay giảm giá sản phẩm, mà quên đi “giá trị thương hiệu” lại nằm ở đó. Thực tế cho thấy, một doanh nghiệp sản xuất tất giấy của Trung quốc đã đưa sản phẩm của mình vào bán ở 1 siêu thị của Nhật bản với giá 02 USD/01 đôi. Sau 1 thời gian dài, sản lượng tiêu thụ là rất thấp. Được sự tư vấn của Giám đốc siêu thị, doanh nghiệp này đã thu hồi toàn bộ sản phẩm của mình về và sau 1 tháng quay lại vẫn với sản phẩm tất giấy đó, nhưng chỉ khác là bán với giá 20 USD/01 đôi. Sau 1 thời gian, sản lượng tiêu thụ là rất lớn. Tìm hiểu ra mới biết rằng, siêu thị này chuyên phục vụ những người có thu nhập cao ở Nhật, vì vậy họ dường như không bao giờ tự “hạ đẳng cấp” của mình để mua một đôi tất giấy với giá là 02 USD. Giá cả có thể làm tăng hoặc giảm giá trị của thương hiệu, vì người ta thường nghĩ giá cao đồng nghĩa với chất lượng cao và ngược lại. Tuy nhiên, khi định giá cần cân nhắc đến các yếu tố như: Khách hàng, cạnh tranh, chi phí, thương hiệu… để có chính sách giá cho phù hợp.
3.3. Chính sách phân phối (place)
Chính sách phân phối là sự kết nối các yếu tố phân phối, xây dựng mạng lưới phân phối và sử dụng các phương pháp phân phối. Mỗi chính sách phân phối lại phù hợp với những chủng loại sản phẩm, khách hàng và thời điểm nhất định. Trước những năm 1986, khi nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế bao cấp, hàng hóa chủ yếu được cung cấp qua các cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Vào những năm 90, thời gian đầu của kinh tế thị trường ở Việt Nam, người tiêu dùng có thể mua hàng ở chợ, cửa hàng bán lẻ tư nhân và bách hóa tổng hợp...Và giờ đây, trong điều kiện hội nhập, doanh nghiệp cần bán hàng thông qua các kênh phân phối truyền thống, đưa hàng vào siêu thị, bán hàng qua mạng, bán hàng 24/24h… Có thể nói, phân phối là việc thực hiện chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ.
3.4. Chính sách hỗ trợ tiêu thụ (promotion)/Truyền thông marketing (Communicating customer value)
Hoạt động hỗ trợ tiêu thụ nhằm chuyển tải thông tin, thuyết phục, nhắc nhở, khuyến khích khách hàng mua sản phẩm cũng như giúp họ có nhận thức và ấn tượng tốt đối với doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thường sử dụng các công cụ: Quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng và marketing trực tiếp. Ngoài ra còn sử dụng những thông điệp nhất quán nhằm tạo dựng hình ảnh thương hiệu thông qua: tên gọi, logo, slogan, mầu sắc, âm thanh, biển hiệu…
3.5. Chính sách marketing dưới góc độ nhân sự (people)
Đối với các doanh nghiệp dịch vụ, cảm nhận của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào hành vi ứng xử của nhân viên được thể hiện qua: cử chỉ, điệu bộ, lời nói, cách đi lại, thái độ, diện mạo bề ngoài và trang phục… Vì vậy, để thu hút và giữ chân khách hàng, doanh nghiệp cần đào tạo chi tiết cho nhân viên các kỹ năng:  giao tiếp, quan hệ khách hàng…; thiết kế đồng phục cho phù hợp với “đặc trưng” của doanh nghiệp và có những quy định cụ thể nhằm quán triệt “đặc trưng” này.
3.6. Chính sách marketing theo quá trình (process)
Trong cơ chế thị trường, để tạo được cảm nhận tốt và uy tín với khách hàng, doanh nghiệp cần làm đúng ở mọi nơi, mọi lúc và mọi thời điểm. Hãy hình dung các hoạt động marketing của doanh nghiệp như những  mắt xích của một dây xích. Trong khi hầu hết các mắt xích trên dây đều rất chắc và tốt nhưng chỉ một mắt xích nhỏ có vấn đề, thì cả dây xích đó dường như không được coi là hoàn hảo nữa, thậm chí trong nhiều trường hợp không thể sử dụng được. Do vậy, để hoạt động marketing mang lại hiệu quả cao, từng thành viên trong doanh nghiệp phải quán triệt nhất quán mọi quy định có liên quan ở bất cứ thời điểm nào, lúc nào và nơi nào. Thực tế đã chứng minh, cái giá phải trả là rất đắt đối với một siêu thị khi có một cô nhân viên ở vào một thời điểm nhất định, có thái độ phục vụ không tốt với chỉ một bà cụ già, trong khi mọi nhân viên khác và ngay cả cô nhân viên đó đã thực hiện rất tốt những quy định của siêu thị và có thái độ phục vụ rất tốt trong suốt thời gian dài đã qua.
3.7. Chính sách có liên quan đến các phương tiện hữu hình (physical evidence)
Các phương tiện hữu hình có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo cảm nhận cho khách hàng và thể hiện nhất quán hình ảnh thương hiệu, đó là: logo, cổng doanh nghiệp, bố trí khuôn viên doanh nghiệp, cờ, vị trí treo cờ, cách bài trí phòng làm việc và cửa hàng giới thiệu sản phẩm, sách giới thiệu công ty, danh thiếp, tiêu đề có sẵn trên các tài liệu….Vì vậy, marketing mix hiện đại cần chú trọng cả những chi tiết này.
3.8. Chính sách lợi nhuận (profit)
Cho dù hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận, trừ các doanh nghiệp công ích và các doanh nghiệp có liên quan đến an ninh quốc phòng, song nhiều khi để tồn tại và phát triển trong tương lai, doanh nghiệp phải biết hy sinh lợi nhuận trước mắt. Có nhà nghiên cứu kinh tế đã từng nói rằng: “Việc một nhà kinh doanh coi lợi nhuận là số 1, là trên hết, không khác nào như một người lái xe chỉ nhìn vào gương chiếu hậu mà thôi”. Điều đó có nghĩa, ở từng thời điểm, từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, doanh nghiệp cần có chính sách lợi nhuận cho phù hợp, đôi khi phải biết chấp nhận lỗ.
3.9. Chính sách bao gói (packaging)
Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp không cần cải tiến sản phẩm, song vẫn “hút hồn” được người tiêu dùng bằng chính sách bao gói. Nếu kiểu dáng bao gói đánh trúng và đúng tâm lý khách hàng thì doanh nghiệp sẽ thành công. Ví dụ về kiểu dáng hộp bánh đậu xanh mang hình thỏi vàng, thỏi bạc và hộp kẹo vitamin C mang hình tất cả các nhân vật trong phim hoạt hình và truyện tranh  Đôremon, Pôkemon… đã minh chứng rất rõ điều đó.
3.10. Chính sách có liên quan đến tốc độ tiến triển (pace)
Để luôn làm mới mình và để thu hút được khách hàng, doanh nghiệp cần phải rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm bằng cách liên tục cải tiến nhỏ sản phẩm truyền thống để đưa ra sản phẩm mới nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu liên tục thay đổi của khách hàng. Ví dụ về những dòng xe máy liên tục được cải tiến và đưa ra thị trường của hãng Honda đã chứng minh rất rõ về điều này: Honda 67, Cup 78, Cup 79, Cup 80, Cup 81 đời đầu, đời chót, đời kim vàng giọt lệ, Cup 82, Dream…..
Tóm lại: Doanh nghiệp được coi như một cơ thể sống tồn tại  trong một môi trường kinh doanh không ngừng biến động. Để thích ứng được với môi trường đó, đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải lắng nghe và điều chỉnh cơ thể mình cho phù hợp và hoạt động  marketing của doanh nghiệp không thể nằm ngoài xu thế này.

TS. Nguyễn Thị Hoài Dung - Giám đốc Trung tâm Tư vấn doanh nghiệp, Phó trường Khoa Quản trị kinh doanh - Đại học Kinh tế quốc dân

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 


Tìm chúng tôi trên Facebook




 



 







Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay8512
mod_vvisit_counterHôm qua24267
mod_vvisit_counterTuần này102178
mod_vvisit_counterTuần trước131557
mod_vvisit_counterTháng này557329
mod_vvisit_counterTháng trước621083
mod_vvisit_counterTất cả35072303
  Hội đồng Biên tập:
Chủ tịch: PGS. TS Nguyễn Văn Việt - Chủ tịch VBA
Các ủy viên:
THS. Nguyễn Tiến Vỵ
Văn Thanh Liêm
GS. TS Đinh Văn Thuận
Nhà sử học Dương Trung Quốc

Phó Tổng biên tập phụ trách:
 
Nhà báo Nguyễn Văn Chương