Kỳ 2: Thực trạng rượu thủ công không phép…
Thứ hai, 22 Tháng 9 2014 14:11
Trước thực trạng rượu phi thương mại, rượu không rõ nguồn gốc, không đảm bảo an toàn đang trôi nổi trên thị trường, nhóm Phóng viên Tạp chí Đồ uống Việt Nam tiếp tục thực hiện cuộc điều tra, khảo sát tại một số địa phương nấu rượu, kinh doanh buôn bán rượu…
Hầu hết các hộ đều không có giấy phép, khu nấu rượu mất vệ sinh và không đảm bảo an toàn…
Rượu thủ công vẫn không phép
Hiện nay, trên cả nước, ngoài các làng nghề nấu rượu như làng Vân (Bắc Giang), Đại Lâm (Bắc Ninh), làng Ngâu (Hà Nội), Kim Sơn (Ninh Bình), làng Vọc (Hà Nam), Phú Lễ (Bến Tre), Bàu Đá (Bình Định), San Lùng, rượu ngô Bản Phố (Lào Cai), Mẫu Sơn (Lạng Sơn),… còn có nhiều địa phương không có làng nghề cũng nấu rượu. Hầu như thôn, xóm nào cũng có những hộ nấu rượu “nút lá chuối”. Mặc dù, Nghị định số 94/2012/NĐ-CP về sản xuất, kinh doanh rượu đã có hiệu lực được gần 2 năm, nhưng số đăng ký Giấy phép sản xuất, kinh doanh là rất ít, phần lớn các hộ nấu rượu thủ công đều chưa đăng ký Giấy phép theo quy định. Khi được hỏi về Nghị định 94/2012/NĐ- CP, hầu hết các hộ nấu rượu đều lắc đầu không biết hoặc lấy lý do hôm nấu hôm không thì đăng ký làm gì. Bà Tới, ở làng Ngâu (thôn Yên Ngưu, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội) cho biết: “Tôi nấu ít có nhiều đâu mà đăng ký, nhà tôi 3 đời nấu rượu, mỗi ngày chỉ nấu khoảng chục lít rượu bán cho các gia đình có việc trong làng xã thôi”. Làng Ngâu có nghề nấu rượu từ thời Pháp thuộc, những năm gần đây do tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiều hộ đã bỏ nghề tập trung xây nhà cho thuê. Hiện nay, cả thôn có khoảng 100 hộ nấu rượu, chủ yếu vẫn mang tính đơn lẻ, tự sản tự tiêu, chưa có tổ chức, cá nhân đứng ra thu mua để làm thương hiệu. Tình trạng sản xuất rượu thủ công không phép còn diễn ra ở những nơi được công nhận là làng nghề truyền thống như làng Vân (thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Tại đây, mới chỉ có một HTX đăng ký Giấy phép sản xuất, kinh doanh. Bà Nguyễn Thị Hoàn (51 tuổi), ở thôn Yên Viên cho rằng: “Tôi có biết Nghị định 94/2012, nhưng với quy định trong Nghị định thì chúng tôi đành gác vòi, không nấu nữa, bởi thu nhập như hiện nay không đủ tiền để đăng ký. Còn đăng ký bản quyền, thương hiệu thì chúng tôi cũng không có khả năng”.
alt
Khu sản xuất rượu thủ công ngay cạnh chuồng lợn.
Nhiều hộ nấu rượu ở thôn Đông Lâu, xã Phú Đông (Ba Vì – Hà Nội) và phường Đại Mỗ (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) cũng đều lấy lý do là có sản xuất lớn đâu mà đăng ký, có người còn mơ hồ cho rằng, quy định mới này “thả cửa” cho người dân tự do nấu rượu. Trong đó, cũng có không ít người chưa biết gì về Nghị định 94/2012/NĐ - CP. Một phụ nữ tên Hương, ở làng Đại Lâm (xã Tam Đa, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) nói: “Tôi chưa biết quy định này, nhà tôi không đăng ký giấy phép, bởi bán cho dân ở đây việc gì phải đăng ký. Nếu không cho nấu nữa thì tôi chuyển sang nghề khác…”. 
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Trọng Hội – Chủ tịch UBND xã Vân Hà cho rằng: “Nghị định 94/2012/NĐ - CP thực sự là khó thực hiện ở làng quê vì các hộ nấu đơn lẻ, ngày nấu, ngày không, nếu đăng ký rất khó, không phù hợp với hiện tại, người ta tự sản tự tiêu. Xã đã tuyên truyền nhiều và cũng có nhiều đoàn về đây khảo sát, nhưng hiện Nghị định chưa đi vào thực tế đối với người dân ở đây. Người dân đăng ký rất khó, nếu đăng ký phải mất kinh phí nên họ không đăng ký. Mong rằng, các cơ quan hoạch định chính sách nên xây dựng quy định làm sao để người dân sống được với nghề, vừa chấp hành tốt quy định của pháp luật, vừa có thu nhập để đảm bảo cuộc sống”.
alt
Rượu thủ công không đảm bảo an toàn.
Ông Hội cho biết thêm: “Số hộ nấu rượu thủ công ở thôn Yên Viên hiện giảm nhiều so với trước đây, cả thôn hiện có 100/800 hộ nấu rượu. Do thị trường đan xen giữa hàng giả và hàng thật nên phần nào đã ảnh hưởng đến việc tiêu thụ rượu làng Vân. Hiện nay, hầu như xã nào cũng có người nấu rượu, vì vậy sản lượng tiêu thụ rượu làng Vân giảm, có những người bỏ nghề chuyển sang đi làm công nhân, làm thuê vì ngày công cao hơn. Những hộ gắn bó với nghề nấu rượu chủ yếu là những người cao tuổi”. 
Theo báo cáo của Sở Công Thương Hà Nam, rượu nấu bằng phương pháp thủ công trên địa bàn hiện có 165 hộ (tập trung tại 3 địa phương là làng Vọc, làng Bèo và xã Hợp Lý), ngoài 3 làng nghề này hiện vẫn chưa quản lý và thống kê cụ thể được số hộ và lượng rượu dân tự nấu. Về việc kinh doanh bán lẻ rượu, tính đến tháng 6/2014 trên địa bàn tỉnh có 177 cơ sở kinh doanh bán lẻ rượu đã được cấp giấy phép. Các cơ sở này tập trung chủ yếu ở thành phố Phủ Lý và các thị trấn tại các huyện trong tỉnh. Phần lớn các cơ sở kinh doanh bán lẻ rượu trên địa bàn thường bán kèm với những hàng tạp hóa khác và nằm rải rác ở các thôn, xóm nên rất khó thống kê được lượng rượu bán lẻ cho người tiêu dùng. Ngoài các cơ sở kinh doanh rượu được cấp phép còn không ít các cơ sở kinh doanh bán lẻ rượu với số lượng nhỏ chưa được cấp phép vẫn kinh doanh tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, gây khó khăn cho công tác quản lý và việc kiểm soát chất lượng rượu. Trong khi đó, theo quy định của Bộ Công Thương, việc cấp giấy phép bán buôn, bán lẻ rượu bị khống chế tính theo số dân trên từng địa bàn (01 giấy bán buôn/100.000 dân; 01 giấy bán lẻ/1.000 dân). Do vậy, có địa bàn hầu như đã cấp gần hết chỉ tiêu (TP. Phủ Lý) dẫn đến công tác quản lý gặp nhiều khó khăn.
alt
Cảnh mất vệ sinh tại khu nấu rượu.
Tại Ninh Bình, tính đến hết năm 2013, trên địa bàn tỉnh chưa có dự án sản xuất rượu với quy mô công nghiệp và có trên 2.300 cơ sở sản xuất rượu thủ công với tổng sản lượng trên 6.400.000 lít/năm. Xã Lai Thành, huyện Kim Sơn có nghề truyền thống sản xuất rượu với khoảng 1.800 hộ. Sản lượng rượu của các hộ sản xuất hiện đạt khoảng 30 – 50 lít/ngày/hộ. Đây là sản phẩm đã và đang được các cấp chính quyền xúc tiến đầu tư, xây dựng trở thành một nhãn hiệu tập thể. Hiện nay, đa số các cơ sở sản xuất rượu thủ công trên địa bàn các huyện, thành phố, thị xã có quy trình sản xuất, thiết bị sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhiều cơ sở sản xuất nằm trong khu dân cư nông thôn. Ở đó, nấu rượu chỉ là nghề phụ, chủ yếu tận dụng bã rượu làm thức ăn chăn nuôi gây khó khăn cho việc xử lý môi trường.   
Khu sản xuất mất vệ sinh, rượu không đảm bảo
Trong các chuyến điều tra, chúng tôi nhận thấy, điểm chung của các hộ nấu rượu thủ công là không quan tâm đến vệ sinh nơi nấu rượu và chất lượng không đảm bảo an toàn. Tới khu nấu rượu của gia đình bà Tới ở làng Ngâu, chúng tôi thật sự choáng khi chứng kiến các thúng, mủng ủ cơm và nơi nấu rượu đặt ngay cạnh chuồng gà, mùi hôi thối nồng nặc. Các vật dụng như xô, chậu, ca phục vụ sản xuất rượu đều cáu bẩn, lem nhem. Có những hộ còn sản xuất rượu ngay cạnh chuồng lợn, có hộ thì khu nấu rượu rất ẩm thấp, tối tăm. Nhìn bằng mắt thường đã cảm thấy không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, chứ chưa nói gì đến chất lượng sản phẩm. 
alt
Khu sản xuất của một hộ nấu rượu thủ công.
Các hộ nấu rượu thủ công tự ý điều chỉnh độ của rượu tùy theo yêu cầu của khách hàng, hiện có nhiều loại rượu như 16 độ, 30 độ, 40 độ, 50 độ, giá cả cũng tăng lên theo độ từ 20.000đ – 50.000đ/lít. Các hộ này thường sản xuất theo đơn đặt hàng của khách, và khách phải báo trước từ 3-4 ngày thì mới có sản phẩm. Một hộ nấu rượu ở thôn Đông Lâu, xã Phú Đông (Ba Vì – Hà Nội) đã rót loại rượu hơn 50 độ ra đĩa để chứng minh cho chúng tôi biết là rượu độ cao “xịn”. Vừa mới bật lửa, ngọn lửa xanh đã bùng lên, chủ nhà còn khoe: “Dùng rượu này nướng mực còn thơm hơn cả cồn công nghiệp…”. Chủ nhà nói: Để nhận biết loại rượu độ cao hay thấp thì ta dùng tay lắc đều can, chai, nếu thấy sủi bọt là chuẩn, còn không sủi bọt là rượu độ thấp”.    
Theo các nhà chuyên môn, lượng aldehyde (andehit) trong các loại rượu thủ công hiện nay gấp đôi chuẩn quy định cho phép. Và hiện nay, không biết bao nhiêu người tiêu dùng, nhất là người dân các vùng nông thôn, ven đô, lao động phổ thông hàng ngày vẫn “vô tư” sử dụng các loại rượu “nút lá chuối” không đảm bảo chất lượng, an toàn này mà không hay biết.

Nhóm Phóng viên

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 




   





 




Liên kết website

Hỗ trợ trực tuyến

My status
  Hội đồng Biên tập:
Chủ tịch: PGS. TS Nguyễn Văn Việt - Chủ tịch VBA
Các ủy viên:
GS. TS Đinh Văn Thuận
Nhà sử học Dương Trung Quốc

Phó Tổng biên tập phụ trách:
 
Nhà báo Nguyễn Văn Chương