Hợp chất Phenolic trong Bia ngăn ngừa ung thư

23/08/2023 - 03:11 PM
481 lượt xem
Cỡ chữ

1. Mở đầu

Bia là sản phẩm đồ uống bổ dưỡng ngoài chức năng giải khát, bia còn là nguồn cung cấp polyphenols, từ malt (70-80%) và houblong (20-30%). Các lớp cấu trúc bao gồm các phenols, benzoic- và các chất dẫn xuất a-xít cinamic, catechins, di-, tri- và hợp chất oligomeric proanthocyanidins (OCPs), (prenylated) chalcones và nhiều loại flavonoids. Trung tâm nghiên cứu ung thư của Đức đã thử nghiệm 48 loại bia pha phenolics đại diện cho 10 loại lớp cấu trúc về khả năng ngăn chặn ung thư. Các hệ thống thí nghiệm xác định các hiệu ứng chống oxy hóa, ví dụ như lọc (scavenging) các gốc (radicals) DPPH, superoxide anion, peroxulhydroxyl. (ii) sự chuyển hóa cinogen bằng việc giảm thiểu hoạt động của Cyp1A giai đoạn 1 và quy nạp của NAD(P)H giai đoạn 2: hoạt động của quinone reductase (QR), cơ chất chống viêm thông qua sự kiềm chế của việc quy nạp chất nitric oxide synthase và kiềm chế hoạt động của cyclooxygenase và  estrogenic và các hiệu ứng chống estrogenic trong thí nghiệm tế bào nuôi cấy Ishikawa (cell culture). A-xít Gallic, catechins, proanthocyanidins và các flavonols, như quercetin đã chứng minh được một phạm vi lớn nhất của hoạt động chống oxy hóa với khả năng lọc các gốc được thí nghiệm. Quercetin và các xanthohumol chalcone từ houblong có nhiều tiềm năng nhất trong việc điều khiển chuyển hóa xenobiotics. A-xít Gallic xanthohumol đã kìm hãm  các cảm ứng iNOS, nhưng ngược lại -catechin và -epicatechin có tiềm năng là chất kiềm hãm Cox-1 nhất. Tóm lại, điều rõ ràng là các hợp chất trong bia có các thành phần cấu trúc khác nhau nên có các tính chất hoạt động sinh học đặc trưng trong các hệ thống thí nghiệm. Ung thư là một quá trình phức tạp, việc kết hợp với các hợp chất có tính năng hoạt động sinh học cao, có thể ngăn ngừa ung thư hiệu quả.

 

Các tiến bộ trong nghiên cứu về quá trình gây ung thư ở cấp độ tế bào và phân tử trong nhiều thập kỷ qua đã dẫn đến sự phát triển của một phương pháp tiếp cận đầy hứa hẹn trong việc phòng chống ung thư, được gọi là “chemoprevention” (hóa trị dự phòng - HTDP) (Sporn và Newton, 1979). HTDP hướng tới mục đích ngăn lại hoặc đảo ngược quá trình phát triển và tiến triển của các tế bào tiền ung thư bằng việc sử dụng các chất dinh dưỡng không có độc hoặc các tác nhân trong khoảng thời gian giữa giai đoạn khởi phát khối u và trở thành bệnh ác tính (Kelloff et al, 2006). Có một khoảng thời gian đáng kể mà trong đó, quá trình gây ung thư có thể bị dừng lại hoặc đảo ngược. Xét tới điều này, việc xác nhận và ứng dụng của các thực phẩm ăn kiêng, các sản phẩm tự nhiên hoặc chất tổng hợp tương tự như là một tác nhân HTDP dưới dạng thực phẩm chức năng hoặc dinh dưỡng đã trở thành một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu về ung thư và sức khỏe.

Có một số bằng chứng cho thấy bia là một loại nguyên liệu đáng chú ý cho việc phát triển HTDP. Bia là một trong những loại đồ uống được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Đây là một nguồn cung cấp lớn cho các chất dinh dưỡng, bao gồm các loại vitamin. Bia chứa một hỗn hợp phức tạp các thành phần phenolic (phenolic constituents)   vốn có được từ malt đại mạch (70-80%) và houblong (20-30%). Các lớp cấu trúc bao gồm các phenol , benzoic- và các chất dẫn xuất a-xít cinnamic, coumarins, catechins, di-, tri- oligometric proanthocyanidins, (prenylated) chalcones và một số lớp flavonoids.

Polythenols đã được cho là có liên quan tới nhiều khía cạnh tăng cường sức khỏe, như: ngăn ngừa ung thư nhờ vào tác dụng chống oxy hóa và các cơ chế khác (Yang et al, 2001; Surh, 2003). Mới đây, một số báo cáo đã chứng minh rằng uống bia có thể kiềm hãm hóa học các chất gây ung thư đại tràng và tuyến vú trong loài chuột.

Các bằng chứng khoa học thu thập được trong 10 năm qua cho thấy được tiềm năng phòng chống ung thư của các thành phần trong bia, bao gồm các prenylated flavonoids và a-xít đắng, các nhà nghiên cứu đã điều tra tiềm năng HTDP về ung thư của 48 loại thành phần bia thuộc về 10 lớp phenolics khác nhau. Đã chứng minh các hoạt động chống oxy hóa của những hợp chất này trong 5 hệ thống thí nghiệm khác nhau, ảnh hưởng của chúng lên việc kích hoạt trao đổi chất và tính giải độc của các carcinogens, cũng như các đặt tính chông viêm. Các hợp chất houblong được lựa chọn cũng được thử về nội tiết tố nữ và các đặc tính chống estrogen.

2. Phương pháp khảo sát thí nghiệm để phát hiện hóa trị ung thư dự phòng tiềm năng

2.1 Lọc các gốc diphenyl-picrylhydrazyl

2.2 Lọc các gốc superoxide anion tạo ra bằng cách phi enzyme nhờ vào NADH và phenazine methosulfate

2.3 Lọc các gốc superonide anion, vốn được hình thành bằng enzyme, bởi xanthine oxidase

2.4 Ức  chế việc hình thành các gốc superoxide anion, gây ra bởi phorbol myristate acetate, trong các tế bào HL-60

2.5 Đo lường khả năng hấp thụ gốc oxy

2.6 Ức chế độ hoạt động của Cyp1A

2.7 Xác định hoạt động khử NAD(P)H:quinone trong nuôi cấy tế bào gan chuột

2.8  Ức chế của cảm ứng tổng hợp oxide nitric qua trung gian LPS trong các thực bào của chuột (LPS-mediated inducible nitric oxide synthase induction in murine macrophages)

2.9 Ức chế của hoạt động cyclooxygenase

2.10 Xác định khả năng estrogenic và chống estrogenic trong các tế bào Ishikawa được nuôi cấy

   

3. Kết quả khảo sát nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm 48 thành phần bia về tiềm năng chống ung thư trong 9 hệ thống thí nghiệm phù hợp để phát hiện tính chống oxy hóa và hoạt động lọc gốc, tiềm năng để ức chế sự kích hoạt trao đổi chất của xenobiotics bởi  Cyp1A và để cải thiện khả năng giải độc gia đoạn 2, các hiệu quả giảm viêm và estrogenic/chống estrogenic.

 

    1. Khả năng chống oxy hóa và lọc các gốc

Khả năng chống oxy hóa và lọc các gốc được chứng minh phản ứng (ROS), do các bệnh miễn dịch, viêm và nhiễm trùng mãn tính dẫn đến tổng oxy hóa và có quan hệ hiệu quả với các quy trình lúc khởi đầu và phát triển của khối u.

Có 3 loại ROS chính: các gốc Hydroxyl (*OH) rất dễ phản ứng với oxy và tấn công tất cả các mục tiêu phân tử sinh học (AND, proteins, lipids...),Gốc superoxide anion (O2*-) không phản ứng trực tiếp với các phân tử sinh học nhưng được gắn tới các hiệu ứng độc do các phản ứng chuỗi thứ cấp. Các chuỗi tự do khác của peroxyl (ROO*) đóng góp các sự cải thiện cho căng thẳng oxy hóa. Nhiều hệ thống thí nghiệm, bao gồm thử nghiệm lọc chuỗi DPPH, 3 hệ thống tạo chuỗi superoxide anion và thử nghiệm khả năng hấp thu chuỗi oxy (ORAC) với các chuỗi peroxylhydroxyl để điều tra việc lọc gốc và khả năng chống oxy hóa của các hợp chất bia phenolic đã được xác lập.

3.2 Lọc gốc DPPH Phương pháp thử nghiệm DPPH được bổ sung bởi đây là hệ thống đơn giản vốn chỉ ra các dấu hiệu của tiềm năng lọc chuỗi của một hợp chất thí nghiệm.

Kết quả chứng minh là các lớp cấu trúc của catechins (flavan-3-ols), proathocyanidins flavonols là mạnh nhất trong các gốc lọc DPPH.

A-xít Gallic là chất dẫn xuất của a-xít benzoic với 3 nhóm hydroxyl được nhận dạng là gốc lọc DPPH mạnh. Catechins (+)-catechin, (-)-epicatechin, gallocatechin, epicatechin gallate và 3’-O-methyl-catechin đều gần như chủ động như nhau trong việc lọc DPPH với các giá trị SC50­ từ 12.7-16.9µM. một liên kết glucosidic ở nhóm OH trong vị trí 07 giảm SC50 tới 505 nếu so với (+)-catechin. Procyanidin B3 prodelphinidin C còn mạnh hơn loại subunis (+)-catechin gallocatechin, với các giá trị SC50 là 7.6 và 9.7µM. Điều thú vỵ là không phải flavanones, như naringenin, hay flavones như apigenin có thể lọc gốc DPPH. Ngược lại, flavonols quercetinmyricetin, có nhiều nhóm hydroxyl hơn flavones, được xác nhận là các chất lọc tốt. một liên kết glucosidic tại nhóm OH giảm khả năng lọc tới 2-3 lần.

 

3.3 Lọc gốc Superoxide anion

Các gốc superoxide anion có thể được tạo ra bằng chất hóa học, bằng enzyme hoặc trong các tết báo sống. 3 hệ thống thử nghiệm cho cả 3 phương pháp được xác lập.

Hệ thống PMS/NADH không-enzyme. Thử nghiệm này được tạo ra dựa vào nghiên cứu của Ewwing và Janero (1995). So với 2 thử nghiệm O2*- khác được miêu tả dưới đây thì phương pháp này dường như tạo ra được lượng O2*- lớn nhất, bởi các hợp chất phải được thử nghiệm trong nồng độ cao hơn 10 lần, tới 1mM để đặt được 50% khả năng lọc gốc.

Đồng thuận với tiềm năng lọc gốc DPPH, catechins (+)-catechin, gallocatechin epicatechin gallate cũng rất có khả năng lọc các gốc superoxide anion, trong khi glucoside ít hoạt động hơn aglycon. Một lầ nữa, procyanidin3 và đặc biệt là loại trimeric proanthocyanidin prodelphinidin C là mạnh hơn loại subunits (+)-catechingallocatechin tương ứng. Flavanones isoxamthohumol cũng như naringenin và các dẫn xuất prenyll hóa và cho thấy tiềm năng yếu trong việc lọc các gốc superoxide trong hệ thống này. Các dẫn suất apigenin: saponaretinsapnarin là có khả năng lọc mạnh nhất. Nói cung, flavonol myricetin với ba nhóm OH được xác nhận là chất lọc O2*- mạnh nhất trong thử nghiệm này với giá trị SC50 là 24µM.

Hệ thống Enzym X/XO Sự oxy hóa của hypoxanthine trong a-xít uric bởi XO dẫn tới việc tạo ra enzyme của các gốc superoxide anion. Các hợp chất được thử nghiệm trong nồng độ tới 100µM. Nhất quán nhất với với các thử nghiệm trước đó, catechins proanthocyanidins được xác nhận là chất lọc gốc superoxide mạnh nhất.

Hệ thống di động: Chuỗi Superoxide tạo ra bởi PMA trong Granulocytes Nói cách khác, sự hình thành các gốc superoxide anion được phát hiện trong các tế bào bạch cầu biệt hóa promyelocytic của người HL-60, với PMA để tạo ra các gốc superoxide anion. Trong số 48 hợp chất được thí nghiệm, chỉ có 3 là có hơn 50% tính ức chế với nồng độ ở mức 100µM. Xanthohumol, flavone saponaretinlignin 5-ketopinoresinol hãm sự sản xuất của superoxide qua trung gian PMA với các giá trị SC50 tương ứng là 5.5µM, 4.7 µM và 7.1 µM. Điểm thú vị là lignin 5-ketopinoresinol đã không cho thấy tiềm năng lọc các gốc superoxide anion trong hai thử nghiệm khác. Điều này biểu thị rằng 5-ketopinoresino có thể  kìm hãm truyền tín hiệu do PMA gây ra.

3.4  Khả năng hấp thụ gốc oxy

Thử nghiệm ORAC là một hệ thống được thiết lập rất tốt để xác định được các chất lọc gốc peroxyl và hydroxyl. Trong nghiên cứu hiện tại, phác đồ mà sử dụng β-phycoerythrin (β-PE) làm chất chỉ thị huỳnh quang nhạy cảm với oxy hóa khử đã được điểu chỉnh cho phù hợp với định dạng khay 96-well. Trong thử nghiệm hiện tại, các nhà nghiên cứu đã thay β-phycoerythrin bằng huỳnh quang, bởi độ ổn định cao hơn của tín thiệu huỳnh quang và giá thành thấp hơn.

ORACROO Các gốc Peroxyl được tạo ra ở nhiệt độ 37oC bởi chất tạo gốc peroxyl AAPH. Trolox, một chất dẫn suất Vit.E hòa tan trong nước, thường được sử dụng là hợp chất tham chiếu, và một đơn vị ORAC được xác định là lưới bảo vệ của β-PE tạo ra bởi 01µM Trolox. Để so sánh, bia phenolics đã cũng được thử nghiệm ở nồng độ 1µM. 35 trong số 48 hợp chất cho thấy tiềm năng lọc gốc peroxyl cao hơn Trolox ở nồng độ này.

Phenol tyrosol đơn giản, chất dẫn suất của a-xít benzoic: a-xít protocatechuic và a-xít gallic cũng như caffecic, ferulic chlorogenic đều là một chất lọc gốc peroxyl mạnh hơn Trolox. Nói chung, catechinsproanthocyanidins là các chất chống oxy hóa mạnh nhất trong hệ thống ORACROO. Gallocatechin chỉ hoạt độnt bằng nửa (+)-catechin và (-)-epicatechin, vốn có khả năng lọc tương ứng là 4.0 và 4.7 ORACROO đơn vị. Quá trình este hóa của a-xít gallic với (-)-epicatechin làm tăng mạnh tiềm năng lọc peroxylqpicatechin gallate được xác nhận là hợp chất mạnh nhất với 7.8ORRACROO­ đơn vị. Ngược lại, chặn cá nhóm hydroxyl tự do, như làm giảm tiềm năng lọc so với (+)-catechin. Di và trimeric proanthocyanidins procyanidin B3, prodelphinidin C mạnh hơ các loại subnits tương ứng (+)-catechin và đặc biệt là gallocatechin. Quercetin, vốn sản xuất 5.5 ORAC đơn vị, là flavonol mạnh nhất.

ORACOH Một chất hóa hợp của H2O2 và CuSO4 được dùng trong phản ứng kiểu Fenton để tạo các gốc hydroxyl. Điều đáng chú ý là tiềm năng của Trolox để lọc các gốc hydroxyl là khá thấp. Do đó, hệ số tạo ra từ khu vực giữa đường cong phân tích huỳnh quang của phản ứng có kiểm soát và của 1µM Trolox, vốn thể hiện 01 đơn vị ORACOH, là khá thấp. Do đó, việc tiêu chuẩn hóa theo hệ số này tạo ra các giá trị ORACOH tương đối cáo đối với phần lớn các hợp chất bia phenolic. Trong năm 2002, các tác giả của thử nghiệm ORACOH gốc đã tham chiếu một phương pháp cải tiến gọi là HORAC, vốn tận dụng huỳnh quang như một cảm biến huỳnh quang, Co(II) fluoride/picolinic a-xít-H2O2 để tạo các gốc hydroxyl và a-xít galic làm một tiêu chuẩn tham chiếu.

3.5 Điều khiển chuyển hóa chất gây ung thư

Sử dụng Sự ức chế Cyp1A các tế bào ung thư gan tạo bởi β-napththoflavone được sử dụng làm nguồn cho hoạt động của Cyp1A, và sự khử alkyl của CEC được theo dõi trong 45 phút. Không chất dẫn suất nào của a-xít benzoic cinnamic, catechinsproanthocyanidins hãm hoạt động của Cyp1A tới hơn 50% với giới hạn nồng độ ở mức 5µM. Ngược lại, xanthohumol, apigenin quercetin được xác định là chất hãm Cyp1A vô cùng mạnh, với các giá trị IC50 ở mức 0.02µM. Glycosides như saponaretin saponarin cũng như các chất dẫn suất của quercetin quercitrin isoquercitrin ít hiệu nghiệm hơn nhiều so với các loại aglycons tương ứng. Flavanones isoxanthohumol, naringenin và 8- và 6-prenylnaringenin, cũng như flavon tricin có khả năng lớn chặn được hoạt động của Cyp1A với các giá trị IC50 dưới 0.5µM. Thêm vào đó, 1-methyl-1,3,4,9-tetraahydropyrano[3,4-b]indole 4-ketopinoresinol hiển thị tiềm năng hãm Cyp1A có mức độ.

       3.6 Cảm ứng chất khử (Reductase Induction) NAD(P)H:Quinone

Mẫu cảm ứng QR được mô tả kỹ lưỡng trong các tế bào ung thư gan Hepa 1c1c7 được nuôi cấy của chuột được dùng để mô tả tiềm năng của các chuỗi hợp chất thử nghiệm để kích ứng chuyển hóa xenobiotics giai đoạn 2. Các chất chống oxy hóa có thể kích ứng các enzymes giai đoạn 2 thông qua yếu tố phiên mã liên kết gọi là yếu tốt phản ứng chống oxy hóa.

Chalcone xanthohumolquercetin được xác định là một chất cảm ứng mạnh nhất đối với hoạt động QR và được xác định các giá trị CD tương ứng là 1.7 và 2.6µM. Tuy thế, cả hai hợp chất cũng được hiển thị là có độc tính tế bào cao nhất với các giá trị IC50-T (nồng độ dẫn đến 50% khả năng ức chế sự sống của tế bào), là 7.4 và 14µM. Nói chung, flavonols kaempferol citrinisoquercitrin có tiềm năng cao hơn để kích ứng hoạt động QR hơn flavanones isoxanthohumol, 8- và 6-prenylnaringenin và chất dẫn suất của naringenin. Hoạt động QR tạo ra bởi 1-Methyl-1,3,4,9-tetrahydripyrano[3,4b]indole và lignan 4-ketopinoresinol với các giá trị CD tương ứng là 33.9 và 6.0µM.

 

  1. 3.7 Cơ chế chống viêm

Ước tính rằng 18% các trường hợp bị ung thư có liên quan tới các quá trình viêm mãn tính. Vì thế đã thử nghiệm tiềm năng hãm cảm ứng của iNOS và hoạt động của cyclooxygenase 1 (Cox-1). Cả hai enzymes đều liên quan tới việc tạo ra chất trung gian gây viêm dưới dạng nitric oxideprostaglandins.

3.8 . Ức chế của cảm ứng iNOS trong Murine Macrophages

Ức chế của cảm ứng iNOS được đo trong việc nuôi cấy đại thực bào ở chuột mẫu Raw 264.7 được kích thích bởi LPS. Chỉ có 08 trong số các hợp chất được thử nghiệm có thể ức chế ở mức vừa phải cảm ứng iNOS, đó là a-xít gallic, xanthohumol và sản phẩm chu kỳ isoxnthohumol của nó, apigenin, flavonols kaempferol, quercetinquercitrin, cũng như 4-ketopinoresinol, với các giá trị IC50 trong phạm vi 18.7-40.6µM. Cảm ứng iNOS được trung hòa thông qua sự hoạt hóa của đường tín hiệu của NF-kB  (Karin, 2006); Vì thế, có khả năng là các hợp chất này có thể ức chế cảm ứng iNOS bằng việc can thiệp vào con đường này.

3.9 Ức chế hoạt động của Cox-1

Tận dụng các microsomes là nguồn cung cho Cox-1 và đo lượng sử dụng oxy trong bước đầu của việc sản xuất prostaglandins cho Cox-1. Đặc biệt là, chỉ có catechins, xanthohumol và hoạt động của Cox-1 bị ức chế bởi 8-prenylnaringenin tới >50% với các nồng độ dưới 100µM. Đối với (+)-catechin và (-)-epicatechin, đã xác định được rằng các giá trị của IC50 là 5.2 và 7.5µM. Cả hai hợp chất đều rõ là mạnh hơn gallocatechin, epicatechin gallate và 3’-O-methylcatechin. Một liên kết đường ở nhóm hydroxyl trong vị trí 7  như trong tiềm năng ức chế Cox-1 đã bị hủy bỏ hoàn toàn.

3.10 Các hoạt động của Estrogenic và chống Estrogenic

Nhiều nguyên liệu houblong đã được báo cáo là có đặc tính estrogenic. Vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu đã điều tra các đặc tính chống anti-estrogenic của xanthohumol và các loại flavanones có xuất sứ từ các loại houblong đưa vào tế bào nuôi cấy Ishikawa. Dòng tế bào ung thư tử cung ở người phản ứng với estrogens bằng hoạt động ALP nâng cao. Việc điều tiết đồng thời với estrogens và các hợp chất thử nghiệm cho phép việc nhận diện các chất chống estrogens.

Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của (Gerhauser et al, 2002a), xanthohumol được nhận diện là một chất chống estrogens thuần khiết vốn không kích ứng hoạt động ALP. Ngược lại, isoxanthohumol cho thấy tiềm năng của estrogenic và ALP cảm ứng trong một nồng độ ở phạm vi 0.1-1µM. Naringenin ít hiệu quả hơn isoxanthohumol tới một bậc. Prenylation trong vị trí C8 làm tăng rõ rệt hoạt động estrogenic của naringenin tới 10.000 lần, khi mà 8-prenylnaringenin  có tính estrogenic ngang với β-estradiol vốn được dùng làm hợp chất tham chiếu. Điều này là đã được chuẩn đoán trước, bởi 8-prenyl-naringenin đã được miêu tả là một trong các loại phytoestrogens mạnh nhất mà đã từng được  Milligan chứng minh năm 2002. Ngược lại thì prenylation trong vị trí C6 cải thiện phần nào tiềm năng estrogenic của naringenin.

Tất cả 5 hợp chất cũng được thử nghiệm cho hoạt động chống estrogenic tiềm năng bởi ứng dụng đồng phát của các hợp chất khi kết hợp với β-estradiol. Xanthohumol và 6-prenylnaringenin có hiệu quả nhất trong việc ức chế cảm ứng hoạt động ALP qua trung gian β-estradiol với các giá trị IC50 là 2.5 và 3.1 µM. Isoxanthohumol, naringenin và 8-prenylnaringenin cũng ức chế cảm ứng ALP, mặc dù với nồng độ cao hơn. Dưới các điều kiện trong cơ thể sống, phản ứng nói chung nhiều khả năng là sẽ một hiệu ứng estrogenic bởi nồng độ yêu cầu thấp hơn cho cảm ứng hoạt động ALP nếu so với các chất cần cho sự ức chế cảm ứng ALP qua trung gian β-estradiol.

 

3.11 Các nghiên cứu khảo sát Xanthohumol

Trong số các hợp chất được thử nghiệm, xanthohumol được xác nhận là hợp chất có triển vọng nhất trong việc hóa trị ung thư dự phòng. Cùng với các hoạt động được miêu tả, xanthohumol. Làm giảm hoạt động α của AND polymerase tái tổ hợp của người và gây ức chế tổng hợp AND trong các tế bào gây ung thư vú ở người MDA MB 435. Điều này dẫn đến việc kìm hãm lại chu kỳ tế bào trong giai đoạn –S (Gerhauser et al, 2002a). Sự phân cắt Poly (ADP-ribose) polymerase (PARP), sự kích hoạt của caspases-3,-7,-8 và -9 và điều chỉnh giảm của protein Bcl-2 (protein expression) được phát hiện là đóng góp cho cảm ứng apoptosis trong các tế bào ung thư trực tràng ở người được nuôi cấy. Xanthohumol cũng được nhận thấy là tạo ra sự phân biệt tế bào trong các tế bào bạch cầu HL-60 ở người và thể hiện được tiềm tăng chống tạo mạch (anti-angiogenic) ở người.

Điều quan trọng là, xanthohumol ở nồng độ nano (nanomolar concentrations) đã ngăn chặn tổn thương tiền ung thư gây ra bởi chất gây ung thư trong thí nghiệm nuôi cấy nội tạng tuyến vú ở chuột (MMOC), đem lại một chỉ số trực tiếp đầu tiên bởi tiềm năng hóa trị dự phòng của nó. Các điều tra đã xác định tiềm năng phòng chống ung thư tuyến vú của xanthohumol trong một mẫu chất gây ung thư dài hạn.

4. Kết luận:

- Bia có chứa một hỗn hợp phức tạp của các hợp chất phenolic thuộc về ít nhất 1 lớp cấu trúc khác nhau. Trong nghiên cứu hiện tại, 48 hợp chất bia được thử nghiệm trong một loạt các thử nghiệm sinh học phòng thí nghiệm cho thấy khả năng phòng chống ung thư. Điều đáng chú ý là, nhiều lớp cấu trúc của các hợp chất có hoạt động khá khác biệt.

- Nói chung, catechins và proanthocyanidins được nhận diện là chất lọc gốc mạnh nhất đối với DPPH, các chuỗi peroxyl và superoxide anion. A-xít cinnamicc, xanthohumol và myricetin là mạnh nhất trong việc lọc các gốc hydroxyl rất dễ phản ứng.

Đối với sự điều tiết sự chuyển đổi xenobiotics, đặc biệt là xanthohumol và các lớp flavonoids đã cho thấy các tác dụng mạnh: Xanthohumol, (prenylated) flavanones va aglycons apigenin, quercetin và myricetin được nhận diện là các chất ức chế rât mạnh đối với hoạt độnt của Cyp1A ở nồng độ nano. Mặt khác, xanthohumol, flavanones và flavonols đã cải thiện hoạt động khử NAD(P)H:quinone như một chỉ thị cho sự giải độc nâng cao.

- Hoạt động giảm viêm bằng chất ức chế hoạt động iNOS tạo ra bở LPS được đem lại bởi a-xít gallic, xanthohumol, isoxanthohumol, apigenin, các flavonols được lựa chọn và 4-ketopinoresinol, trong khi catechins, xanthohumol và 8-prenylnaringenin được nhận diện là các chất ức chế của Cox-1.

Kết quả nghiên cứu khảo sát của các nhà khoa học tại trung tâm nghiên cứu ung thư Đức đã chứng minh sự phối hợp tương tác của các thành phần trong hoa houblong có tính chất hoạt động khác nhau, có thể nâng cao hiệu quả tính năng hoạt động sinh học phòng chống ung thư trong cơ thể người. Vấn đề này sẽ được phát triển nghiên cứu tiếp tục trong tương lai.

Clarissa Gerhauser, German Cancer Research Center, Division Toxicology and Cancer

Risk Factors, Workgroup Chermoprevetion, Heidelberg, Germany

                                                             

Nguồn: 1/ Beer in health and disease prevention,

              2/ Kelloff et al, 2006. Lippman, S.M., Dannenberg, A,J Sigman, C,C,. Pearce, H,L,.Reid, B,J,.Szabo, E.,Jordan, V,C., Spitz,M.R...

             3/ Ewwing và Janero (1995). Anal. Biocbem.232,243-248. Gerhauser, C., Alt, A., Heiss, E., Gamal – Eldeen, A., Klimo, K., Knauft, J., Neumann, I., Scherf, H.R., Frank, N., Bartsch, H. and Becker, H., 2002a), ...

Biên tập: PGS. TS Trương Thị Hòa  

Biên dịch: Phùng Việt Anh

                                   

Các bài viết khác

Xem thêm

KỸ THUẬT HOÀN THIỆN LÀM TRONG  SẢN PHẨM BIA

​​​​​​​Bia sau quá trình lên men phụ dù đã qua quá trình lọc tách cặn và tách xác men nhưng vẫn còn chứa nhiều nấm men dư thừa và các chất kết tủa khác có nguồn gốc từ quá trình nấu, đường hóa và đun sôi dịch đường với hoa Houblon hoặc được tạo ra từ quá trình lên men. Để có được một sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận cần làm trong bia, có nghĩa tách các thành phần cặn kết tủa và nấm men dư thừa ra khỏi bia tạo cho bia sản phẩm đạt chất lượng cao.

Kho tự động thân thiện với môi trường cho Plzeňský Prazdroj

Nhiều không gian lưu trữ hơn, xử lý hiệu quả hơn và xuất đi nhanh hơn: Nhà kho hoàn toàn tự động mới của Plzeňský Prazdroj đã cho phép nhà máy bia Séc tối ưu hóa chi phí đồng thời ưu tiên tính bền vững bằng cách đầu tư vào các công nghệ khả thi trong tương lai.

Giảm khối lượng chai mang  lại tác động to lớn đến môi trường và sự phát triển bền vững

5.9 gr – Khối lượng cực thấp cho loại chai”ShoulderFlex” là yếu tố quyết định để ban giám khảo của giải thưởng “German Packaging”năm nay trao cho Krones ở hạng mục “Phát Triển bền vững”.

Kỹ thuật xử lý nước sử dụng cho công nghệ sản xuất Bia

Trong quy trình công nghệ sản xuất Bia. Nước đóng vai trò vô cùng quan trọng, nước chiếm 95% trong sản phẩm bia. Nước là chất xúc tác quá trình trao đổi chất, thực hiện các phản ứng động học, hóa học, lý học và vi sinh trong dây chuyền sản xuất bia và đồ uống nói chung.

Khmer Beverages tiếp tục đầu tư và tin cậy vào Krones

Khmer Beverages - nhà sản xuất bia và nước giải khát hàng đầu Campuchia đã mở rộng nâng công suất sản xuất và một lần nữa đưa hệ thống chế biến và dây chuyền chiết mới của Krones vào vận hành.

Dây chuyển chiết rót PET vô trùng đầu tiền của Coca-Cola Ấn Độ

Đối với đồ uống có độ axit thấp hoặc cao, có hoặc không có thịt quả trái cây dạng hạt hoặc sợi trong chai tròn hoặc vuông có nhãn quấn hoặc nhãn tròng: Dây chuyền vô trùng chiết lạnh của Krones chiết rót được với mức hiệu quả rất cao về tiết kiệm chi phí và năng lượng.

Tổng quan xu hướng sử dụng Bia tại châu Âu

Các nước Nam Châu Âu (Pháp, Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) thường được coi là những quốc gia sản xuất rượu vang, tiêu thụ rượu vang, với chế độ ăn uống kiểu Địa Trung Hải

Nhãn co thân tái chế chạy ổn định trên máy tốc độ cao của Krones

Krones và nhà sản xuất nhãn CCL cung cấp cho các công ty nước giải khát một phương án hoàn hảo để sản xuất các loại chai sử dụng nhãn co thân ở tốc độ cao một cách ổn định: máy Sleevematic TS và nhãn co thân EcoFloat.

Quảng cáo và mua tạp chí