Tổng quan thị trường hoa Houblong tại Mỹ USA

27/10/2022 - 09:00 AM
507 lượt xem
Cỡ chữ
Quy mô trang trại trồng hoa houblong tại Mỹ
Đối với vụ mùa năm 2021, số lượng trang trại hoa houblong ở Tây Bắc Thái Bình Dương (PNW), giảm tổng số trang trại xuống còn 69. Các trang trại lớn hơn có nhiều doanh nghiệp đầu tư được tính là một đơn vị canh tác. Các quy mô trang trại vừa và nhỏ tăng nhẹ lên 357 ha, trong đó Washington dẫn đầu với 479 ha cho mỗi trang trại, tiếp theo là Idaho và Oregon với lần lượt là 392 ha và 136 ha. Với việc mở rộng diện tích cho vụ mùa 2021, hầu hết các nông trại đều đạt gần mức công suất của cơ sở hạ tầng hiện tại.Số liệu ước tính đã có thêm 26 tiểu bang khác đã trồng hoa houblong cho vụ mùa năm 2021. Với một vài trường hợp ngoại lệ, hầu hết các trang trại trồng hoa houblong bên ngoài khu vực PNW có quy mô nhỏ hơn nhiều so với các trang trại lớn đã thành lập trong PNW.Quy hoạch phát triển diện tích trồng hoa houblongSau khi mở rộng 4% diện tích vào năm 2020, vụ mùa năm 2021 chứng kiến mức tăng thêm 4% (903 ha), đánh dấu năm thứ 10 liên tiếp về việc mở rộng diện tích ở Mỹ và một lần nữa lập kỷ lục diện tích lớn nhất. Tổng diện tích thu hoạch trong niên vụ 2021 là 24.635 ha cho vùng PNW. Xu hướng đối với các giống hoa thơm tiếp tục tăng, tăng từ 76% lên 78% trong tổng diện tích của PNW, trong khi các giống hoa đắng giảm xuống 22%. Diện tích của các giống độc quyền tăng nhẹ lên 67%, so với 33% các giống đại trà. Các giống độc quyền tiếp tục được kí hợp đồng với người trồng trên cơ sở sản xuất toàn bộ thay vì theo khối lượng cụ thể, điều này loại bỏ khả năng xuất hiện những loại hoa houblong này trôi nổi trên thị trường. 
alt
Cả ba bang PNW đều tăng diện tích với tỷ lệ tương tự cho vụ mùa năm 2020. Washington tiếp tục duy trì là bang sản xuất chiếm ưu thế với 17.719 ha (72% thị phần PNW), tiếp theo là Idaho với 3.923 ha (16%) và Oregon với 2.993 ha (12%).Ngoài 3 bang ở PNW, số liệu ước tính rằng 26 bang khác đã trồng khoảng 561 ha hoa houblong cho vụ năm 2021, giảm 44% so với năm trước. Kết quả là, diện tích ước tính ở các bang không thuộc PNW đã giảm xuống còn khoảng 2,5% tổng diện tích của Hoa Kỳ.
Tổng diện tích trồng hoa houblong 2017 – 2021 tại Mỹ:
VarietyLoại  2017ha 2018 ha 2019 ha 2020 ha 2021 ha Percentageof acreage2021% Diện tích trồng năm 2021 Differenceto previousyearSự khác biệt so với năm trước PercentageChange% Thay đổi
Citra® 2,072                          2,583  3,517 4,450 4,849 19.7% 398 8.9 %
Mosaic® 1,098  1,113   1,662 2,224 2,597 10.5% 373 16.8 %
Cascade                              2,811 2,499 2,212 1,634 1,752 7.1% 117 7.2 %
Simcoe®                               1,865 1,614  1,730  1,665 1,643 6.7% -22 -1.3 %
Centennial                                2,132 1,954 1,545 1,222 968 3.9% -254 -20.8 %
Amarillo®                               1,217 1,166  959 870 772 3.1 % -98 -11.3 %
Chinook                                  981 1,143 946 766 718 2.9% -48 -6.3 %
El Dorado®                     276 218 402 641 702 2.8 % 61 9.5 %
Sabro®                -  - 299 498 575 2.3 % 77 15.5 %
Strata™            -  -  - 216 491 2.0 % 275 127.2 %
Idaho7®     -  -  - 366 397 1.6 % 30 8.3 %
Willamette                               620 590 429 380 391 1.6 % 11  3.0 %
Cashmere    -                  -  - 125 232 338 1.4 % 106 45.5 %
Azacca®                               234  221 238 292 295 1.2 % 3 1.1 %
Talus™                     -  -  - 62 223 0.9 % 161 258.4 %
Comet                                99 132 3 10 171 215 0.9 % 44 25.8 %
Tahoma                                 93 99 93 72 193 0.8 % 121 168.9 %
Mt. Rainer                               58 174  153 146 170 0.7 % 23 16.1 %
Ekuanot®                                 398 354 270 274 168 0.7 % -105 -38.5 %
Cluster                                258 272 216 175 166 0.7 % -9 -5.3 %
Palisade                                 233 212 196 103 138 0.6 % 35 34.3 %
Crystal                             278 250 180 121 123 0.5 % 2     1.3 %
Bru-1™               -  -  - 116 120 0.5 % 4 3.5 %
Other Aroma                 1,862 1,863 1,704 1,406 1,332 5.4 % -74 -5.3 %
Total Aroma              16,586 16,458 17,008  18,102 19,334 78.5 % 1,232 6.8 %
CTZ                             1,977 2,478 2,645 2,544 2,254 9.1 % -290    -11.4 %
Pahto®                      399 716 885 917 863 3.5 % -54 -5.9 %
Pekko®                       -  - 126 324 433  1.8 % 109 33.6 %
Apollo™                                 371 416 429 388 374 1.5 % -13 -3.4 %
Eureka™                                 177 219 247 263 323 1.3 % 60 22.8 %
Nugget                                 604 580 471 356 253 1.0 % -103 -28.9 %
Super Galena™                       231 270 223 227 229 0.9 % 2 0.9 %
Summit™                                 654 637 434 259 177 0.7 % -82 -31.7 %
  259                            149 122 100 115 0.5 % 15 15.0 %
Bravo™                               305 351 295 251 279 1.1 % 28 11.2 %
Other Bitter                             4,978 5,815 5,875 5,629   5,300 21.5 % -329 -5.8 % 
Total Bitter                        21,564 22,272 22,883 23,732 24,635 100.0 % 903 3.8 %
PNW TOTAL                       2,072 2,583 3,517 4,450 4,849 19.7 % 398 8.9 %
Việc làm tròn số liệu về diện tích đôi khi dẫn đến sự khác biệt về tổng sốNăm chủng hoa houblong hàng đầu về tăng diện tích năm 2021: 5 giống hoa hàng đầu ở Mỹ chiếm hơn một nửa diện tích của Hoa Kỳ với tổng diện tích là 13.095 ha (53%). Diện tích trồng Citra® đã tăng thêm 398 ha (9%), duy trì vị trí đứng đầu danh sách diện tích của Hoa Kỳ trong năm thứ tư liên tiếp với thị phần gần 20% của tổng số diện tích các mẫu đất PNW. Mosaic® đã vượt qua CTZ để lên vị trí thứ hai với mức tăng 373 ha (17%), trong khi CTZ tụt xuống thứ ba với mức giảm 290 ha (11%) do thị trường sử dụng alpha acid của Mỹ vẫn chậm chạp. Sự trượt dốc gần đây của Cascade dường như đã kết thúc, vụ mùa của Cascade diện tích đã thêm 117 ha (7%) cho vụ mùa 2021, vượt lên trên Simcoe® và đứng giữ vị trí thứ tư. Diện tích của Simcoe® xếp thứ năm tương đối ổn định trong những năm gần đây và một lần nữa gần như không đổi vào năm 2021. 
alt
Nằm ngoài top 5, Centennial tiếp tục giảm mạnh với diện tích giảm 254 ha (21%). Do đó, tổng diện tích của giống hoa này đã giảm một nửa chỉ trong vòng 4 năm. Vụ mùa 2021 đối với các giống khác có mức tăng đáng chú ý bao gồm Strata® (+275 ha / 127%), Talus® (+161 ha / 258%), Tahoma (+121 ha / 169%) và Cashmere (106 ha / 46%). Trong danh mục các loại hoa bia đắng, ngoài việc diện tích CTZ giảm, Nugget cũng giảm xuống 103 ha (29%) vì hoa này vẫn tiếp tục không được thị trường ưa chuộng.Ảnh hưởng điều kiện thời tiết đến quá trình phát triển hoa houblongĐiều kiện thời tiết trong suốt mùa đông ở khu vực PNW đã mang lại lượng mưa trên trung bình và lượng băng tuyết như dự đoán. Vào mùa xuân, các hồ chứa trên núi chứa rất nhiều nước tạo tiền đề cho nguồn cung cấp nước dồi dào cho vụ mùa năm 2021. Tuy nhiên, vào đầu mùa hè, một vùng nhiệt chưa từng thấy xuất hiện tại khu vực PNW, tạo ra nhiệt độ khắc nghiệt cho các khu vực trồng trong suốt tháng 6 và sang tháng 7. Nhiệt độ cao trên 38oC trong nhiều tuần, với nhiệt độ cao kỷ lục lên tới 43 – 46oC  vào một số ngày trong khoảng thời gian này. Sức nóng thiêu đốt cây trồng vẫn đang còn trong giai đoạn đầu phát triển, cây dễ bị tổn thương vì hầu hết các cây leo chưa đạt đến chiều cao của giàn. Đến cuối tháng 6, nhiều cánh đồng có vẻ bị hư hại nặng và còi cọc, dù cho quá trình quan sát tại nhiều thời điểm khác nhau đáng kể trên các khu vực trồng trọt. Các cánh đồng hoa houblong non nói riêng chịu nhiều thiệt hại hơn so với các cánh đồng hoa houblong trưởng thành, do cây trồng năm đầu tiên chưa có cấu trúc rễ phát triển đầy đủ cần thiết để lấy nướcTuy nhiên, khi quá trình phát triển cây tiến triển vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8, hầu hết phần lớn vụ mùa phục hồi tốt ngoài mong đợi của ngành và được hỗ trợ đáng kể nhờ cung cấp đủ nước. Tuy nhiên, cây con không phục hồi hoàn toàn, cũng như một số giống cây trưởng thành sớm hơn. Nhiệt khiến cho hoa nở muộn đối với hầu hết các giống. Đi vào thu hoạch, vụ mùa chín muộn - chậm hơn khoảng 5 ngày so với lịch trình bình thường ở Washington và Idaho, tuy nhiên ở Oregon thì gần như đúng lịch. Búp hoa có kích thước từ trung bình đến trên trung bình đối với nhiều giống, mặc dù kích thước búp hoa thường nhỏ hơn bình thường.Sự biến đổi cây trồng được thể hiện rõ ràng từ trang trại này sang trang trại khác và theo giống. Citra® nhìn chung có vẻ yếu ớt trước khi thu hoạch, tuy nhiên, sản lượng vượt trội ở mức trung bình dài hạn. Mặt khác, Cascade đạt sản lượng thấp hơn trung bình khoảng 15%. Centennial, một giống thường không chịu nhiệt tốt với năng suất trung bình. Năng suất Chinook, Cluster và Idaho 7 ™ rất cao, trong khi các giống khác bao gồm Mosaic®, Amarillo®, El Dorado ™, Simcoe® và Strata® cho năng suất trung bình. Willamette và một vài giống nhỏ hơn có giá trị dưới mức trung bình. Các giống hoa đắng, thường phát triển mạnh ở nhiệt độ cao, cho năng suất cao hơn trung bình khoảng 8 đến 10% đối với mỗi chủng loại, mặc dù hàm lượng alpha thấp hơn mức trung bình 5 năm, đặc biệt là với CTZ. Bất chấp những thách thức và lo ngại về cây trồng, trọng lượng búp hoa và sản lượng hoa houblong  cao hơn dự kiến, dẫn đến năng suất thu hoạch nói chung đạt gần mức trung bình dài hạn. Sau khi hoàn thành thu hoạch, USDA báo cáo rằng các bang PNW đã sản xuất 52.449,5 tấn, tăng 5.363 tấn (11,4%) so với vụ mùa trước, thiết lập một khối lượng kỷ lục mới cho Hoa Kỳ.Những lo ngại trước đó về đợt nắng nóng không chỉ tập trung vào tác động đến sản lượng mà còn về chất lượng mùa vụ. Tuy nhiên, khi sản lượng tăng trở lại ngoài mong đợi, chất lượng vụ mùa cũng tăng tương tự. Thay vì có hại, sự tác động nhiệt đối với cây dường như đã làm tăng đặc tính thơm của nhiều giống hoa houblong đối với nhiều giống cây. Chất lượng hương thơm nhìn chung là cao hơn, với màu sắc tốt và hàm lượng tinh dầu trên mức trung bình đối với nhiều loại. Trong khi vụ mùa thu hoạch không đồng bộ do vụ chín muộn, người trồng có thể điều chỉnh lịch trình thu hoạch để chọn từng giống riêng lẻ vào thời điểm thích hợp. Áp lực sâu bệnh và dịch bệnh thấp một cách bất thường trong suốt mùa vụ, bao gồm cả sự xâm nhập của bọ ve thường phổ biến khi nhiệt độ cao.COVID-19 một lần nữa gây thêm những thách thức lao động cho việc trồng và thu hoạch cây trồng cho dù đây là vụ thứ hai được trồng trong thời kỳ đại dịch. Mặc dù đã có đủ nguồn cung lao động, nhưng các hoạt động nông nghiệp vẫn tiếp tục bao gồm các quy trình an toàn bổ sung, thiết bị bảo hộ cá nhân, nhân viên dự phòng và các ràng buộc về nhà ở cho công nhân được quy định, điều này đã làm tăng thêm đáng kể chi phí trồng trọt.
alt
Diện tích trồng hoa houblong bên ngoài Tây Bắc Thái Bình Dương (PNW)Theo báo cáo của Hop Growers of America (HGA) – Hiệp hội trang trại hoa houblong  Hoa Kỳ, diện tích trồng hop của Mỹ bên ngoài khu vực PNW đã giảm ước tính 44% so với năm trước. Hoa bia từ khu vực không thuộc PNW được bán phổ biến hơn vào các thị trường địa phương nhỏ hơn - vốn tập trung nhiều vào các nhà máy bia thủ công với mô hình phân phối tại chỗ. Phân khúc này của ngành công nghiệp sản xuất houblong đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID trong hai năm qua, dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu đối với một phần lớn của sản xuất hoa bia không thuộc vùng PNW. Trong số 2,5% tổng diện tích của Hoa Kỳ được đại diện bởi các tiểu bang không thuộc PNW, khoảng 63% tổng số mẫu đất đó đến từ Michigan, New York và Montana, trong khi 37% diện tích khác không thuộc PNW khác trải rộng thêm 23 tiểu bang có diện tích tương đối nhỏ.Trong khi các khu vực trồng trọt không thuộc PNW không trải qua cái nóng lịch sử như ở PNW, các bang khác cũng gặp điều kiện trồng trọt đầy thách thức trong mùa này. Đáng chú ý là Michigan, bang sản xuất lớn thứ tư, đã trải qua một mùa trồng trọt bị cản trở bởi một số đợt mưa kéo dài với lượng mưa trên mức trung bình, góp phần làm gia tăng các vấn đề nấm mốc và các loại nấm khác, làm giảm năng suất rất nhiều. HGA ước tính tổng sản lượng 408,2 tấn đã được sản xuất ở 26 bang ngoài khu vực PNW, giảm 10% so với năm trước. Sản lượng này chiếm ít hơn 1% tổng sản lượng của Hoa Kỳ.
Năm 2021 tổng sản lượng hoa houblong toàn nước Mỹ tăng 5,317.1 (1000 tấn/ha). Sản lượng đạt cao nhất là giống: Citra, Mosaic, Cascade, Simcoe, Centennial.Barth Haas – ReportBáo cáo mùa vụ 2020 - 2021Nguồn tài liệu: Công ty TNHH Dịch vụ & Phát triển Đầu tư HMGBiên dịch: Ms. Nguyễn Thị NhungTrưởng Ban Biên Tập KHCN: PGS.TS. Trương Thị Hòa

Các bài viết khác

Xem thêm

Kho tự động thân thiện với môi trường cho Plzeňský Prazdroj

Nhiều không gian lưu trữ hơn, xử lý hiệu quả hơn và xuất đi nhanh hơn: Nhà kho hoàn toàn tự động mới của Plzeňský Prazdroj đã cho phép nhà máy bia Séc tối ưu hóa chi phí đồng thời ưu tiên tính bền vững bằng cách đầu tư vào các công nghệ khả thi trong tương lai.

Giảm khối lượng chai mang  lại tác động to lớn đến môi trường và sự phát triển bền vững

5.9 gr – Khối lượng cực thấp cho loại chai”ShoulderFlex” là yếu tố quyết định để ban giám khảo của giải thưởng “German Packaging”năm nay trao cho Krones ở hạng mục “Phát Triển bền vững”.

Kỹ thuật xử lý nước sử dụng cho công nghệ sản xuất Bia

Trong quy trình công nghệ sản xuất Bia. Nước đóng vai trò vô cùng quan trọng, nước chiếm 95% trong sản phẩm bia. Nước là chất xúc tác quá trình trao đổi chất, thực hiện các phản ứng động học, hóa học, lý học và vi sinh trong dây chuyền sản xuất bia và đồ uống nói chung.

Khmer Beverages tiếp tục đầu tư và tin cậy vào Krones

Khmer Beverages - nhà sản xuất bia và nước giải khát hàng đầu Campuchia đã mở rộng nâng công suất sản xuất và một lần nữa đưa hệ thống chế biến và dây chuyền chiết mới của Krones vào vận hành.

Hợp chất Phenolic trong Bia ngăn ngừa ung thư

Bia là sản phẩm đồ uống bổ dưỡng ngoài chức năng giải khát, bia còn là nguồn cung cấp polyphenols, từ malt (70-80%) và houblong (20-30%)

Dây chuyển chiết rót PET vô trùng đầu tiền của Coca-Cola Ấn Độ

Đối với đồ uống có độ axit thấp hoặc cao, có hoặc không có thịt quả trái cây dạng hạt hoặc sợi trong chai tròn hoặc vuông có nhãn quấn hoặc nhãn tròng: Dây chuyền vô trùng chiết lạnh của Krones chiết rót được với mức hiệu quả rất cao về tiết kiệm chi phí và năng lượng.

Tổng quan xu hướng sử dụng Bia tại châu Âu

Các nước Nam Châu Âu (Pháp, Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) thường được coi là những quốc gia sản xuất rượu vang, tiêu thụ rượu vang, với chế độ ăn uống kiểu Địa Trung Hải

Nhãn co thân tái chế chạy ổn định trên máy tốc độ cao của Krones

Krones và nhà sản xuất nhãn CCL cung cấp cho các công ty nước giải khát một phương án hoàn hảo để sản xuất các loại chai sử dụng nhãn co thân ở tốc độ cao một cách ổn định: máy Sleevematic TS và nhãn co thân EcoFloat.

Quảng cáo và mua tạp chí

Bình chọn trực tuyến

🔴 Bộ Y tế đang lấy ý kiến chuyên gia, đơn vị chuyên môn từ khía cạnh y tế về nồng độ cồn phát hiện trong cơ thể không do sử dụng rượu, bia cũng như các giới hạn nồng độ cồn trong máu hoặc khí thở của người điều khiển phương tiện giao thông. Điều này có nghĩa, khác với quy định trước đây là cứ có nồng độ cồn khi lái xe là bị phạt. Ý bạn:
Bạn có thể chọn 1 mục. Bình chọn của bạn sẽ được công khai.