Trong bối cảnh có nhiều vụ việc vi phạm quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm, hàng hóa gây hậu quả nghiêm trọng được phát hiện và xu hướng thương mại điện tử, kinh tế số phát triển nhanh và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao, chúng tôi ủng hộ việc xây dựng khuôn khổ pháp lý về vấn đề truy xuất nguồn gốc hàng hóa, bao gồm cả thực phẩm nhằm tăng cường tính minh bạch thị trường, phòng chống gian lận và hàng giả, đảm bảo trách nhiệm giải trình trong toàn bộ chuỗi cung ứng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Sau khi tổng hợp ý kiến từ các hội viên, Hiệp hội VBA có một số ý kiến như sau:
Về góp ý chung:
Nguy cơ tiềm tàng về sự chồng chéo:
- Như quý Bộ đã biết, ngày 27/2/2026, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 11/2026/TT-BCT quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương (“Thông tư 11”). Thông tư 11 hiện đang được dựa vào căn cứ chưa được rõ ràng theo quy định truy xuất nguồn gốc thực phẩm đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn được quy định tại Điều 54 của Luật An toàn thực phẩm 2010 (“Luật ATTP) và Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật ATTP. Trong khi đó, Dự thảo Nghị định dựa trên nhiều luật trong đó có Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, được bổ sung, sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15, quy định việc truy xuất nguồn gốc hàng hóa chỉ áp dụng đối với hàng hóa rủi ro cao (Điều 6.d.2). Như vậy, cùng một sản phẩm hàng hóa là thực phẩm đã có hai cách quy định về TXNG khác nhau, với các yêu cầu khác nhau. Đây là điểm cần xem xét về tính hợp lý, có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
- Dự thảo Nghị định đã đưa ra quy định về Nền tảng quốc gia; Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá; Nền tảng chuỗi khối quốc gia; Cổng thông tin quốc gia; Cổng dịch vụ công quốc gia; Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hoá; Dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hoá; Trung tâm dữ liệu quốc gia, trong khi đó nhiều bộ, ngành đã và đang triển khai nhiều hệ thống tương tự. Dự thảo Nghị định cho thấy việc hướng đến việc xây dựng một hệ thống quốc gia quản lý về định danh, TXNG hàng hóa về một đầu mối là Bộ Công An, trên một nền tảng duy nhất thông qua nhiều hệ thống (từ các bộ ngành, địa phương khác nhau), nhiều cổng khác nhau như truyxuatquocgia.gov.vn hoặc vntrace.gov.vn hoặc dinhdanhhanghoa.gov.vn hoặc các tiện ích khác trên các ứng dụng, phần mềm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đã được kết nối với Cổng thông tin quốc gia.
Hiệp hội VBA kính đề nghị Ban soạn thảo rà soát, xem xét lại các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc tại Dự thảo Nghị định với quy định về truy xuất nguồn gốc theo Thông tư 11 của Bộ Công Thương (chẳng hạn: mã định danh, mã truy xuất với mã UID, DID; Chuẩn công nghệ về hệ thống, giá trị pháp lý của dữ liệu, lộ trình áp dụng v.v.).
Đồng thời cần có khảo sát, đánh giá, xem xét nguy cơ tiềm tàng về sự chồng chéo, tính khả thi cũng như khả năng làm tăng chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp.
• Tính bảo mật của thông tin: Dự thảo Nghị định yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp rất nhiều loại thông tin liên quan. Dự thảo Nghị định cho phép được khai thác thông tin giữa các cơ quan quản lý với nhau (không thu phí) và các đối tượng khác không phải là các cơ quan quản lý (có thu phí).
Hiệp hội VBA kính đề nghị Ban soạn thảo phân loại dữ liệu theo mức độ công khai và giới hạn trách nhiệm khi truy cập trong phạm vi kiểm soát hợp lý, nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm bình đẳng pháp lý và thúc đẩy chia sẻ dữ liệu toàn diện, chính xác, thực chất giữa các bên liên quan.
• Quan ngại về tính khả thi và quá tải hệ thống: Nếu quy định được áp dụng, theo hiểu biết của Hiệp hội VBA, sẽ có một lượng rất lớn các doanh nghiệp và các loại hàng hóa phải tuân thủ từ trung ương tới các địa phương. Đồng thời các thủ tục hành chính khai báo trực tuyến/online sẽ được liên thông với Nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh, xác thực và TXNG sản phẩm bao gồm Công bố/Đăng ký sản phẩm hàng hóa, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn, kiểm nghiệm sản phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn sản phẩm v.v.)
Hiệp hội VBA kính đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc kỹ lưỡng về việc đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, nhân sự phục vụ khi quy định được thực hiện.
• Làm rõ cơ sở pháp lý của yêu cầu về định danh và xác thực hàng hóa: Theo sự hiểu biết của Hiệp hội VBA, việc định danh và xác thực hàng hóa chưa được Quốc hội giao cụ thể cho Chính phủ quy định chi tiết tại luật liên quan nào.
Hiệp hội VBA kính đề nghị Ban soạn thảo làm rõ cơ sở pháp lý của việc quy định yêu cầu về định danh, xác thực hàng hóa.
• Chưa có đánh giá đầy đủ, toàn diện về các đề xuất tại Dự thảo Nghị định: Qua rà soát, Hiệp hội VBA nhận thấy Dự thảo Nghị định hiện đang thiết kế theo hướng mở rộng tối đa nghĩa vụ tuân thủ của doanh nghiệp trong khi chưa đánh giá đầy đủ chi phí – lợi ích và điều kiện thực thi.
Ban Soạn thảo cân nhắc:
- Có đánh giá toàn diện, đầy đủ một cách định lượng các để xuất tại Dự thảo Nghị định.
- Trong trường hợp cần thiết phải ban hành, cân nhắc tổ chức thực hiện thí điểm ít nhất trong 2 năm trước khi thực hiện đại trà.
- Tham khảo đánh giá sơ bộ Bảng ước tính chi phí tuân thủ các quy định tại Dự thảo nếu Nghị định được áp dụng từ một doanh nghiệp lớn là hội viên của Hiệp hội VBA tại Phụ lục II.
• Hiệu lực thi hành của Nghị định: theo quy định là từ ngày ký, tuy nhiên việc thực hiện các quy trình, thủ tục theo Nghị định thì cần thời gian, nguồn lực, và tài chinh cho các Doanh nghiệp thực hiện cũng như các cơ quan Nhà nước phải có hướng dẫn chi tiết để thực hiện do đó cần thời gian ít nhất 2 năm để thực hiện.
• Quy định chuyển tiếp: cần làm rõ Nghị định này chỉ áp dụng truy xuất cho hàng hóa có mức rủi ro cao và không áp dụng cho hàng hóa có rủi ro trung bình và thấp để các doanh nghiệp có cơ sở thực hiện và tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thời hạn 1/4/2027 để Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức xây dựng, hoàn thiện và đưa vào vận hành các hệ thống, cổng thông tin, nền tảng phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá thuộc là quá ngắn và có thể này sinh vướng mắc khi áp dụng.
Về góp ý cụ, Hiệp hội VBA kiến nghị, cần làm rõ và bổ sung các nguyên liệu, sản phẩm phục vụ sản xuất nội bộ cần được nằm ngoài phạm vi điều chỉnh.l
- Mở rộng công nghệ cho mã UID, và tùy nghi cho Doanh nghiệp lựa chọn áp dụng hoặc có lộ trình phù hợp để chuyển đổi.
- Cần làm rõ thêm “vật mang dữ liệu”: Trong Thông tư 11 có quy định rằng “Vật mang dữ liệu chứa mã truy xuất nguồn gốc thực phẩm được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp hoặc các hình thức phù hợp khác trên sản phẩm thực phẩm, trên/trong bao bì thương phẩm của sản phẩm”. Vật mang dữ liệu theo Thông tư 11 - BCT và theo Dự thảo Nghị Định có phải là 1 hay không?
Quy đinh chưa rõ ràng, mâu thuẫn với quy định về mã định danh sản phẩm của Thông tư 11 của Bộ Công Thương.
Cần làm rõ phạm vi của “sự kiện theo dõi trọng yếu”, và “sự kiện trong chuỗi cung ứng” để tránh nhầm lẫn khi áp dụng. Xem xét làm rõ trường hợp mã UID bị hư hỏng hoặc mất mát không do lỗi chủ quan của doanh nghiệp thì hướng xử lý như thế nào.
o Chỉ có thay đổi thông tin thuộc Dữ liệu chủ thì mới cần phải cập; Cần làm rõ Các công đoạn truy xuất là gì và Các dữ liệu khác liên quan đến sản phẩm hàng hóa là dữ liệu gì và có nằm ngoài dữ liệu chủ không. Cần làm rõ thời điểm ghi nhận truy xuất cụ thể để tránh thiếu sót khi áp dụng. Cân nhắc nên sử dụng Mã số DN, mã số định danh trên VNEID; Không đưa lịch sử lưu thông sản phẩm vào thông tin được tra cứu trên ứng dụng quốc gia về định danh. Cần làm rõ dữ liệu phát sinh là dữ liệu gì để tránh gây nhầm lẫn, thiếu sót khi thực hiện; Cần làm rõ sự kiện ở đây là sự kiện gì. Đánh giá thời gian 24 giờ là quá ngắn để thực hiện. Làm rõ đối tượng và mục đích yêu cầu dữ liệu và Các thông tin được chia sẻ.
Cần làm rõ tiêu chuẩn về hạ tầng kỹ thuật được viện dẫn theo quy định hay văn bản hướng dẫn nào. Hạ tầng kỹ thuật sẽ định kiểm và xác nhận bởi cơ quan nhà nước hoặc tổ chức độc lập nào. Làm rõ thời hạn hiệu lực của hồ sơ cần lưu trữ cho mục đích đối chiếu.
Xem xét cho phép tận dụng GTIN có thể sử dụng làm mã hàng hóa (cập nhật thêm địa điểm và thời gian sản xuất) để trở thành mã định danh/mã truy xuất. Tránh trường hợp tồn tại nhiều mã song song, chồng chéo, gây tốn kém cho doanh nghiệp.
Xem xét bổ sung 01 khoản mới tại Điều 20 (sau khoản 2): “Việc định danh đến từng đơn vị sản phẩm (serial hóa) chỉ áp dụng đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục rủi ro cao và theo lộ trình bắt buộc do Bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành; đối với các trường hợp còn lại ưu tiên áp dụng định danh ở cấp GTIN kết hợp thông tin lô/mẻ/đóng gói.”
Xem xét điều chỉnh viện dẫn ở Phụ lục I (nếu có): viện dẫn sang đúng khoản mới bổ sung của Điều 20.
Xem xét bổ sung ngay sau câu “Các bộ… quy định cụ thể…”: “Việc khởi tạo chứng chỉ số, bằng chứng số được ưu tiên áp dụng đối với các sự kiện, giao dịch và giấy tờ trọng yếu có ý nghĩa pháp lý hoặc phục vụ quản lý rủi ro; đối với dữ liệu vận hành thông thường, tổ chức, doanh nghiệp được lưu giữ trên hệ thống nội bộ và chỉ đồng bộ các trường dữ liệu tối thiểu phục vụ truy xuất, xác thực theo yêu cầu quản lý.”
Xem xét bổ sung ngay sau câu “Các bộ… quy định cụ thể…”: “Việc xác định công đoạn tối thiểu phải dựa trên mức độ rủi ro, đặc thù chuỗi cung ứng và khả năng thực thi; đối với công đoạn tại điểm c khoản 2 Điều này, việc áp dụng được thực hiện theo lộ trình và điều kiện phù hợp (bao gồm tiêu chí về mức độ sẵn sàng hạ tầng số, quy mô và mô hình vận hành), nhằm bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác và có thể kiểm chứng.”
Xem xét bổ sung cuối khoản 4 Điều 24: “Tần suất cập nhật dữ liệu quy định tại khoản 4 Điều này được phân tầng theo mức độ rủi ro và đặc thù chuỗi cung ứng; Bộ quản lý ngành hướng dẫn cụ thể theo nhóm dữ liệu, nhóm sự kiện và mức độ trọng yếu, đồng thời không coi là vi phạm trong trường hợp chậm cập nhật do lỗi nền tảng, gián đoạn kết nối hoặc sự kiện bất khả kháng đã được ghi nhận.”
Xem xét bổ sung 01 khoản mới cuối Điều 8 hoặc sau Điều 8(4): “Cơ quan quản lý hoặc đơn vị vận hành có trách nhiệm công bố sớm yêu cầu kỹ thuật, lộ trình kết nối và cơ chế thử nghiệm trước khi áp dụng bắt buộc; đồng thời hướng dẫn phân loại thay đổi dữ liệu chủ theo mức độ trọng yếu để doanh nghiệp cập nhật phù hợp, tránh phát sinh nghĩa vụ cập nhật liên tục đối với các thay đổi nhỏ không làm thay đổi bản chất sản phẩm, hàng hóa.”
Xem xét sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 18: “a) Đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đúng phạm vi; thực hiện phân loại dữ liệu theo mức độ công khai và mục đích truy cập, bảo đảm công khai, minh bạch đối với thông tin được phép công khai;”
Xem xét bổ sung 01 câu ngay sau Điều 26.2: “Mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đối với thông tin, dữ liệu do mình tạo lập, cập nhật hoặc trong phạm vi kiểm soát hợp lý; không quy kết trách nhiệm gián tiếp đối với sai lệch phát sinh ngoài phạm vi kiểm soát, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Xem xét bổ sung 01 khoản mới tại Điều 27 (đặt sau khoản 4): “Tổ chức, doanh nghiệp được quyền truy cập liên tục và không thu phí đối với dữ liệu do mình tạo lập hoặc dữ liệu liên quan trực tiếp đến sản phẩm, hàng hóa của mình; thủ tục đề nghị cấp quyền theo Điều 29 chỉ áp dụng đối với thông tin, dữ liệu ngoài phạm vi này.”
Xem xét bổ sung 01 câu ngay sau Điều 32(5): “Việc công khai được thực hiện trên cơ sở kết luận hoặc quyết định xử lý vi phạm theo quy định pháp luật, bảo đảm nguyên tắc minh bạch, chính xác và phân loại mức độ; có cơ chế cập nhật trạng thái khắc phục và điều chỉnh, gỡ bỏ thông tin khi nội dung vi phạm đã được khắc phục hoặc có kết luận khác.”
Xem xét sửa đổi, bổ sung mục 2, điểm d (Phụ lục I) cho phép định danh theo loại sản phẩm hoặc theo lô, mẻ.
Ngoài những đóng góp chi tiết ở mục trên, Hiệp hội VBA gửi thêm các ý kiến góp ý tại Phụ lục I đính kèm theo Công văn này.
Trên đây là những ý kiến của Hiệp hội VBA về Dự thảo Nghị định. Chúng tôi mong muốn có cơ hội được tiếp tục phối hợp chặt chẽ với quý Ban Soạn thảo/Bộ Công an để hoàn thiện Dự thảo Nghị định trước khi ban hành.
CHI TIẾT: TẠI ĐÂY